TÓM TẮT
Mục tiêu: nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh mô bệnh học nhu mô gan, một số xét nghiệm sinh hóa gan mật ở người phơi nhiễm với chất da cam/dioxin sống gần khu vực sân bay Đà Nẵng. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả, cắt ngang và kết hợp điều tra 40 bệnh nhân (BN) có dioxin trong máu tại Bệnh viện Quân y 17 - Đà Nẵng, trong đó 22 BN nam (55%) và 18 BN nữ (45%). 13/40 BN (32,5%) ở độ tuổi < 40, là những người được sinh ra sau chiến tranh ở Việt Nam (sau 1975). Kết quả: tăng các enzym gan và bilirubin toàn phần với các giá trị tương ứng của bilirubin toàn phần, AST, ALT, GGT: 19,93 ± 3,77 mmol/l; 50,3 ± 11,6 U/l; 54,43 ± 9,48 U/l; 60,75 ± 29,27U/l. Tất cả BN được sinh thiết gan đều có tổn thương mô bệnh học: gan thoái mỡ 11/31 BN (35%), viêm gan mạn tính thể tồn tại 7/31 BN (23%), viêm gan mạn thể tấn công 13/31 BN (2%).
* Từ khóa: Phơi nhiễm dioxin; Chức năng gan; Đặc điểm lâm sàng; Hình ảnh mô bệnh học.
Clinical Manifestation, Histological Features of Liver Biopsy and Liver Function Test of People Exposed to Orange/Dioxin agents
Summary
Aims: Study clinical manifestation, histological features of liver biopsy and liver function tests of people exposured to orange agent/dioxin, who live near Danang airbase. Methods: Cros-sectional description study on 40 patients with positive serum dioxin concentration in 17 Hospital (22 males = 55% and 18 females = 45%). In these patients, who were younger than 40 year old (born after Vietnam’s war, 1975) accounted for 32.5%. Results: Moderate increase in hepatic enzymes and bilirubin total concentration was found (bilirubin total: 19.93 ± 3.77 mmol/l; AST: 50.3 ± 11.6 U/l, ALT: 54.43 ± 9.48 U/l, GGT: 60.75 ± 29.27U/l). Hepatic biopsy had histopathologic abnormals in all tested cases, in detail: steatosis 11/31 cases (35%); chronic hepatitis at inactive phase 7/31 cases (23%) and at active phase 13/31 cases (42%).
* Key words: Orange/dioxin exposure; Liver function; Clinical manifastation; Histological features.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chiến tranh đã kết thúc gần 40 năm, nhưng hậu quả tác động lâu dài của chất da cam/dioxin đối với sức khỏe nạn nhân
vẫn rất nặng nề [1, 2]. Phơi nhiễm dioxin gây nên có thể mắc nhiều bệnh lý khác nhau [4, 5, 9]. Gan là một hệ thống cơ quan có chức năng chuyển hóa, cố định, bất hoạt và thải trừ các chất độc nội sinh và ngoại sinh của cơ thể. Chính vì vậy, nó là cơ quan rất dễ tổn thương trong quá trình nhiễm độc lâu dài chất độc ngoại sinh, trong đó có chất da cam/dioxin [4, 10]. Cho đến nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới việc nghiên cứu về cấu trúc mô bệnh học gan ở người bị phơi nhiễm lâu dài chất da cam/dioxin còn rất mới mẻ, do không dễ lấy được mô gan ở người có dioxin trong máu. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm: Bước đầu nghiên cứu hình ảnh mô bệnh học nhu mô gan và một số xét nghiệm sinh hóa gan mật, đặc điểm lâm sàng ở người phơi nhiễm với chất da cam/dioxin.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu.
Khám lựa chọn 40 người là nạn nhân chất độc da cam/dioxin sống gần sân bay Đà Nẵng, đã được xét nghiệm có dioxin trong máu. Thu dung điều trị cho 40 nạn nhân tại Bênh viện Quân y 17.
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những trường hợp có HbsAg (+). anti-HCV (+).
- Những trường hợp nghiện rượu, hay sử dụng thuốc gây hại cho gan.
Thời gian nghiên cứu từ tháng 7 - 2014 đến 11 - 2014.
2. Phương pháp nghiên cứu.
* Thiết kế nghiên cứu: mô tả, cắt ngang và kết hợp điều tra.
* Các bước tiến hành:
- Khám lựa chọn: do bác sỹ Khoa A3 - Bệnh viện Quân y 17.
* Tiêu chuẩn chọn thu dung:
- Là nạn nhân sống gần sân bay Đà Nẵng, có kết quả phân tích dioxin trong máu.
- Có các bệnh lý liên quan đến dioxin hoặc nhiều bệnh lý nghi vấn cần xác định.
* Các xét nghiệm cận lâm sàng sử dụng trong nghiên cứu:
- Xét nghiệm thường quy áp dụng cho tất cả BN (40): công thức máu 18 chỉ tiêu, sinh hoá máu 16 chỉ tiêu, nước tiểu 10 chỉ tiêu, anti-HIV, HBsAg, anti-HCV… thực hiện tại Bệnh viện Quân y 17.
- Sinh thiết gan chẩn đoán mô bệnh học thực hiện theo quy trình của phòng xét nghiệm. Đọc kết quả xét nghiệm mô bệnh học tại Bệnh viện 69, Bộ Tư lệnh Lăng.
* Xử lý số liệu:
Các số liệu thu thập được xử lý theo thuật toán thống kê bằng chương trình phần mềm SPSS 13.0 với các phương pháp: tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tỷ lệ phần trăm. So sánh 2 số trung bình quan sát bằng test t-student, kiểm định sự khác biệt bằng test X².
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
1. Đặc điểm chung của BN thu dung điều trị.
* Đặc điểm tuổi và giới:
- Nhóm tuổi ≤ 40: 13 BN (32,5%); 41 - 60 tuổi: 19 BN (27,5%); > 60 tuổi: 8 BN (20%).
- Nam 22 BN (55%), nữ 18 BN (45%).
Kết quả về tuổi và giới: nhóm BN có tỷ lệ nam/nữ tương đối đồng đều và phân bố đều ở các lứa tuổi. Đây là một ưu thế so với những nghiên cứu về ảnh hưởng của chất da cam/dioxin chủ yếu tiến hành ở cựu chiến binh, là những đối tượng có tuổi đời cao và là nam [1]. Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, không có nạn nhân nào tham gia chiến đấu tại chiến trường có rải chất độc da cam/dioxin.
Nạn nhân được thu dung điều trị là những người có dioxin trong máu, có nồng độ dioxin rất cao. Như vậy, có thể khẳng định chỉ có phơi nhiễm từ nguồn có dioxin cao từ môi trường ô nhiễm mới có nồng độ dixoxin cao đến như vậy ở trong máu.
2. Triệu chứng lâm sàng
Mệt mỏi: 29 BN (72,5%); ăn kém, khó tiêu: 38 BN (95%); rối loạn tiêu hóa: 14 BN (35%); đau tức hạ sườn phải: 28 BN (70%); đau mỏi cơ khớp: 1 BN (2,5%); gan to: 0 BN (0%); vàng da, vàng niêm mạc: 0 BN (0%). (0%); vàng da, vàng niêm mạc: 0 BN (0%).
Mặc dù các triệu chứng trên xuất hiện với tỷ lệ khác cao, nhưng không đặc hiệu và mờ nhạt, do có thể gặp trong rất nhiều bệnh lý khác nhau và bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Các triệu chứng có giá trị đặc hiệu hơn cho bệnh lý gan mật như vàng da, gan to lại không thấy trong nhóm nghiên cứu.

Tháng 5 - 1973 đã có một báo báo ghi nhận sự thay đổi thoáng qua với xét nghiệm chức năng gan ở những công nhân phơi nhiễm với 2,3,7,8 - TCDD sau tai nạn công nghiệp ở nước Anh. Mocarrelli và CS (1986) nghiên cứu kéo dài 6 năm trên những trẻ em bị nhiễm 2,3,7,8 - TCDD trong tai nạn ở Seveso. Theo dõi enzym AST, GGT hàng năm bắt đầu từ tháng 6 - 1977 (khoảng 1 năm sau tai nạn) cho thấy nhóm trẻ bị phơi nhiễm nặng nhất có mức GGT và ALT tăng nhẹ so với nhóm chứng. Tuy nhiên, các giá trị này không được coi là bất thường và trở về mức nền trong vòng 3 năm kể từ lúc phơi nhiễm [3].
Những thay đổi về hóa sinh (chủ yếu tăng AST, ALT và GGT, phosphatase kiềm) cũng thấy ở nhiều dân cư ở Missourri sống trong vùng nhiễm 2,3,7,8 - TCDD (thời gian phơi nhiễm 11 năm). Phân tích hồi quy đa biến lấy số năm cư trú đại diện cho liều lượng đã đưa ra một xu hướng dương tính với GGT và phosphatase kiểm [10].
So sánh với các nghiên cứu trên, kết quả của chúng tôi có mức tăng GGT, AST và ALT tương đương, có hiện tượng tăng nhẹ enzym gan trong nhóm nghiên cứu.
3. Kết quả mô bệnh học nhu mô gan.
* Chẩn đoán giải phẫu bệnh:
- Mặc dù tỷ lệ gan thoái hóa mỡ chỉ 35% (11 BN), nhưng tổn thương thoái hóa mỡ gan gặp ở tất cả BN. Tổn thương thoái hóa mỡ thường gặp ở những người nghiện rượu kéo dài, đái tháo đường, béo phì hoặc nuôi dưỡng đường tĩnh mạch kéo dài. Trên tiêu bản những BN này chưa có tổn thương viêm gan, mà lại thấy nhu gan thuần nhất, cấu trúc tiểu thùy còn nguyên vẹn. Các bè tế bào gan có cấu trúc bình thường, thấy rõ xoang tĩnh mạch. Tế bào gan có cấu trúc không đồng đều, bào tương sáng, không thuần nhất, tạo thành khoảng trống to, nhỏ không đều trong bào tương, nhân tròn, hạt nhân rõ.
- Kết quả giải phẫu bệnh viêm gan mạn thể tổn tại gặp 7 BN (23%). Trên hình ảnh mô bệnh học thấy tổn thương chủ yếu: thâm nhập tế bào viêm vào nhu mô gan vùng khoảng cửa, có hiện tượng gan nhiễm mỡ, thoái hóa, hoại tử tế bào gan. Tuy nhiên, cấu trúc tiểu thùy thấy rõ. Cấu trúc ống mật rõ, không ứ mật. Cấu trúc tế bào gan, xoang tĩnh mạch rõ.
- Tỷ lệ viêm gan mạn thể tấn công 13 BN (42%). Trên hình ảnh mô bệnh học thấy còn cấu trúc tiểu thùy, cấu trúc ống mật rõ, không ứ mật. Khoảng cửa giãn rộng, tăng sinh xơ. Cấu trúc các bè tế bào gan không rõ, xuất hiện các giải xơ viêm trong tiểu thùy. Gan nhiễm mỡ, thoái hóa, hoại tử tế bào gan nặng trung tâm tiểu thùy và quanh khoảng cửa. Nhiều tế bào viêm xâm nhập vào nhu mô gan tạo thành đám.
Khi khảo sát nhóm nghiên cứu này chúng tôi đã loại trừ các yếu tố làm ảnh hưởng đến kết quả mô bệnh học của gan như: yếu tố virut, viêm gan do uống rượu... Nhiều nhà khoa học gây độc thực nghiệm trên một số loài động vật bằng 2,3,7,8 - TCDD qua các đường khác nhau, đều đưa ra kết luận: có độc tính rõ rệt với gan, mức độ tổn thương phụ thuộc vào loài và chủng động vật khác nhau [7, 8]. Nhìn chung, những biểu hiện độc cho gan xuất hiện sau thời gian phơi nhiễm cấp tính. Những thương tổn gan có đặc điểm là thoái hóa và hoại tử tế bào nhu mô gan, xâm nhập bạch cầu mono, tế bào gan đa nhân, nhân khổng lồ, tăng hiện tượng phân bào và xuất hiện nhiều hạt lipid nhỏ trong bào tương. Tình trạng huỷ hoại tế bào gan rõ khi các chỉ số AST và ALT huyết thanh tăng. Nhiều thực nghiệm khác nhau trên các loài động vật khác nhau phơi nhiễm cấp, trung hạn và dài hạn đối với 2,3,7,8 - TCDD theo đường khác nhau đều cho thấy tổn thương gan khá đa dạng và hết sức rõ. Kết quả của chúng tôi: tất cả nạn nhân đều sống quanh sân bay và nhiễm dioxin qua nhiều năm, chủ yếu phơi nhiễm qua đường tiêu hóa. Như vậy, con đường phơi nhiễm dioxin là mạn tính. Tuy nhiên, sự tích lũy dioxin trong cơ thể tăng lên và gan là một trong các cơ quan chịu sự tác động chính do quá trình chuyển hóa, tổn thương gan được ghi nhận trong nghiên cứu này, tất cả các trường hợp được sinh thiết làm mô bệnh học, bao gồm tổn thương thoái hóa mỡ, viêm gan mạn tồn tại và viêm gan mạn tấn công.
KẾT LUẬN
Qua điều trị nạn nhân chất độc da cam/dioxin thu dung từ Đà Nẵng xét nghiệm có dioxin trong máu, chúng tôi rút ra một số kết luận:
- Nghiên cứu 40 BN, trong đó 22 BN nam (55%) và 18 BN nữ (45%). 13/40 BN (32,5%) có độ tuổi < 40, là những người được sinh ra sau chiến tranh ở Việt Nam (sau 1975).
- Triệu chứng của người nhiễm dioxin chủ yếu là ăn kém, khó tiêu (38 BN = 95%). Các triệu chứng khác như mệt mỏi, đau tức hạ sườn phải chiếm tỷ lệ tương đối cao (42,5% và 70%). Các triệu chứng vàng da, gan to không phát hiện trong nhóm nghiên cứu.
- Có hiện tượng tăng nhẹ các enzym gan và bilirubin toàn phần với các giá trị tương ứng của bilirubin toàn phần, AST, ALT, GGT: 19,93 ± 3,77 mmol/l; 50,3 ± 11,6 U/l; 54,43 ± 9,48 U/l; 60,75 ± 29,27U/l.
- Tất cả các trường hợp được sinh thiết gan đều có tổn thương mô bệnh học: gan thoái mỡ 11 BN (35%), viêm gan mạn tính thể tồn tại 7 BN (23%), viêm gan mạn thể tấn công 13 BN (42%).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Quốc Ân, Rumak VS. Đánh giá hiệu quả y học lâu dài của chất da cam/dioxin ở Việt Nam. Hội nghị Khoa học Việt - Mỹ về ảnh hưởng của chất da cam/dioxin lên sức khoẻ con người và môi trường. 2002, tr.24-30.
2. Nguyễn Văn Nguyên. Những biến đổi y sinh học ở một vùng cộng đồng sống trong vùng còn chất da cam/dioxin. Hội nghị Khoa học Việt - Mỹ về ảnh hưởng của chất da cam/dioxin lên sức khoẻ con người và môi trường. 2002, tr 116-126.
3. Bisanti L, Bonetti F, Cararnaschi F et al. Experiences from the accident of Seveso. Acta Morphologica Acad Sci Hung. 1980, 28, pp.139-157.
4. Bock K W. and C Kohle. Ah receptor- and TCDD-mediated liver tumor promotion: clonal selection and expansion of cells evading growth arrest and apoptosis. Biochem Pharmacol. 2005, 69, (10).
5. E.P.A. Risk characterization of dioxin and related compounds. Washington. 1994.
6. Fingerhut MA et al. Cancer mortality in workers exposed to 2,3,7,8-TCCD. N Engl Med 1991, 324, pp.212-218.
7. Kociba R J, D G Keyes et al. Results of a two-year chronic toxicity and oncogenicity study of 2,3,7,8-tetrachlorodibenzo-p-dioxin in rats. Toxicol Appl Pharmacol. 1978, 46 (2), pp.279-303.
8. Mathieu M C, I Lapierre et al. Aromatic hydrocarbon receptor (AhR).AhR nuclear translocator- and p53-mediated induction of the murine multidrug resistance mdr1 gene by 3-methylcholanthrene and benzo(a)pyrene in hepatoma cells. J Biol Chem. 2001, 276 (7), pp.4819-4827.
9. Neubert R, Jacob-Miller V, Helge H et al. Polyhalogenaned dibenzo-p-dioxin and dibenzofurans and the immune system. Arch Toxicol. 1991, 65, pp.213-219.
10. Pitot H C T Goldsworthy et al. Quantitative evaluation of the promotion by 2,3,7,8 -tetrachlorodibenzo-p-dioxin of hepatocarcinogenesis from diethylnitrosamine. Cancer Res. 1980, 40 (10), pp.3616-3620.
Nguyễn Bá Vượng*; Trần Việt Tú*; Phạm Quang Phú*









