Trang chủ Thông tin y khoa Thông tin y khoa Nghiên cứu đặc điểm đau ở bệnh nhân Parkinson

Nghiên cứu đặc điểm đau ở bệnh nhân Parkinson

T6, 09/10/2020

TÓM TẮT

Mục tiêu: nhận xét đặc điểm và các yếu tố liên quan của đau ở bệnh nhân (BN) Parkinson. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang trên 55 BN được chẩn đoán xác định bệnh Parkinson. Nhận xét đặc điểm đau: tỷ lệ đau, mức độ đau, loại đau và các yếu tố liên quan của đau (thời gian mắc bệnh, mức độ bệnh, giai đoạn bệnh). Kết quả và kết luận: BN Parkinson xuất hiện triệu chứng đau chiếm tỷ lệ cao (76,4%), gặp chủ yếu là loại đau đi kèm tăng trương lực cơ (44,2%), trạng thái bồn chồn đứng ngồi không yên (46,5%) và đau cơ xương khớp (32,6%). Tỷ lệ BN có triệu chứng đau tăng dần theo thời gian mắc bệnh, mức độ bệnh, giai đoạn bệnh và mức độ trầm cảm ở BN Parkinson.

* Từ khóa: Bệnh Parkinson; Đặc điểm đau.

Research of Characteristics of the Pain in Parkinson’s Disease

Summary

Objective: To review the characteristics of pain: percentage of pain, pain intensity, pain types and related factors of pain (disease duration, degrees of motor disturbances, disease stage). Subjects and methods: Prospective, cross-sectional study of 55 patients diagnosed as Parkinson’s disease. Results and conclusion: Many patients with Parkinson’s disease had pain symptom. The majority of pain types are akathisia pain, restless legs syndrome dystonic pain and musculoskeletal pain. Proportion of patients with pain symptom gradually increase over disease duration, degree of motor disturbances, disease stage and degrees of major depressive disorders in Parkinson's patients.

* Key words: Parkinson's disease; Characteristics of pain.


ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh Parkinson là bệnh thường gặp do thoái hóa mạn tính tiến triển của hệ ngoại tháp. Bệnh được biết đến với các nhóm triệu chứng về rối loạn vận động và ngoài rối loạn vận động. Tuy nhiên, ngày nay nhiều tác giả nhận thấy, đau là một triệu chứng quan trọng thường gặp, gây ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống, thậm chí còn ảnh hưởng nặng hơn cả triệu chứng vận động, nhưng ít được lưu ý ở BN bị bệnh Parkinson. Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu nhằm mục tiêu: Nhận xét đặc điểm và các yếu tố liên quan của đau ở BN Parkinson.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu.

55 BN bị bệnh Parkinson được khám và điều trị tại Khoa Nội Thần kinh, Bệnh viện Quân y 103 từ 10 - 2013 đến 10 - 2014.

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

BN được chẩn đoán bệnh Parkinson theo tiêu chuẩn của Hội Ngân hàng Não và Parkinson Vương quốc Anh [1].

2. Phương pháp nghiên cứu.

Tiến cứu, mô tả cắt ngang .

- Lựa chọn đối tượng theo tiêu chuẩn nghiên cứu.

- Đánh giá mức độ rối loạn vận động theo thang điểm thống nhất đánh giá bệnh Parkinson (UPDRS - phần III) [2].

- Đánh giá giai đoạn bệnh theo Hoehn và Yahr, gồm 5 giai đoạn [1].

- Đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS.

- Nhận xét đặc điểm của đau: tỷ lệ đau, mức độ đau, phân loại đau [3] và các yếu tố liên quan của đau (thời gian mắc bệnh, mức độ bệnh, giai đoạn bệnh)

* Xử lý số liệu: bằng phần mềm SPSS 15.0.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ  BÀN LUẬN

* Tỷ lệ BN Parkinson có triệu chứng đau:

Đau: 42 BN (76,4%); không đau: 13 BN  (23,6%).

Poewe và CS nghiên cứu trên 176 BN bị bệnh Parkinson, triệu chứng đau được ghi nhận ở 146 BN (83%) [4]. Một nghiên cứu khác trên 95 BN Parkinson thấy    45,3% BN có triệu chứng đau [5]. Trung bình 50% BN Parkinson có triệu chứng đau đi kèm [3]. Kết quả nghiên cứu cho thấy đau có tỷ lệ dao động lớn, có thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, giới, thời gian mang bệnh, giai đoạn, mức độ… Tuy nhiên, cơ chế bệnh sinh của đau ở BN Parkinson còn nhiều điểm chưa rõ ràng.

* Mức độ đau theo thang điểm VAS ở BN Parkinson (n = 43):

Nhẹ: 16 BN (38,1%); trung bình: 16 BN (38,1%); nặng: 9 BN (21,4%); rất nặng:        1 BN (2,4%).

Đa số BN bị đau ở mức độ nhẹ và trung bình, mức độ rất nặng chiếm tỷ lệ thấp nhất.

* Phân loại đau ở BN Parkinson (n = 43):

Đau cơ xương khớp: 14 BN (32,6%); đau rễ thần kinh: 2 BN (4,7%); đau đi kèm với tăng trương lực cơ: 19 BN (44,2%); bồn chồn không yên và hội chứng chân không nghỉ: 20 BN (46,5%).

Đau trong bệnh Parkinson được chia làm 4 - 5 loại [3]. Từ năm 1877, Charcot  [1] đã đề cập đến các cơn đau xuất hiện ở người Parkinson. Ở giai đoạn khởi đầu của bệnh, đau quanh khớp vai là triệu chứng thường gặp, giảm dần vận động vai mà không có tổn thương khớp. Đau dạng “chuột rút”, đau do co thắt cơ ở vùng cổ, cột sống, bắp chân, đau sâu trong bắp cơ khi ngủ hoặc khi tỉnh, đỡ khi đi lại tạo nên hội chứng “chân không nghỉ”. Đau cột sống thắt lưng, dây thần kinh đùi, dây thần kinh hông to rất khó phân biệt giữa đau do bệnh Parkinson hay do một bệnh lý khác phối hợp. Thường nghĩ đến căn nguyên Parkinson khi đau xảy ra từng đợt vào thời kỳ có dao động vận động, khó định khu, ưu thế gốc chi, nặng hơn khi có trầm cảm. Đau đi kèm tăng trương lực cơ thường gặp ở BN có mức độ rối loạn vận động nặng và rất nặng, triệu chứng đau dao động song hành với các dao động về vận động [5].

Kết quả của Beiske AG CS [4] cho thấy, đau cơ xương khớp thấy ở 70% BN, đau do tăng trương lực cơ 40%.

* Tỷ lệ BN mắc các loại đau (n = 42):

BN chủ yếu bị một loại đau (30 BN = 71,4%), tỷ lệ BN bị đồng thời 3 loại đau chiếm 4,8% (2 BN), còn lại là đau 2 loại (10 BN = 23,8%)). Kết quả này tương tự một nghiên cứu trên 176 BN bị bệnh Parkinson thấy 53% BN chỉ có một loại đau, 24% báo cáo có hai và 5% BN cùng tồn tại ba loại đau. Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra triệu chứng đau ở BN Parkinson có thể liên quan đến các biểu hiện dao động vận động và cả triệu chứng ngoài vận động kèm theo đau do bệnh lý đồng diễn.

Tỷ lệ BN có triệu chứng đau tăng dần theo thời gian mắc bệnh, với thời gian mắc bệnh > 5 năm, hầu hết BN đều có triệu chứng đau. Thời gian mắc bệnh < 1 năm có tỷ lệ đau thấp nhất (40%).

Đau ở giai đoạn sớm: than phiền về đau nhiều có thể tiên đoán mắc bệnh Parkinson nhiều tháng, nhiều năm trước khi có triệu chứng vận động. 1/3 số BN đau khớp xuất hiện triệu chứng đau ở cùng thời điểm chẩn đoán bệnh, thường khu trú ở vai, hông và điển hình phối hợp với cứng cơ, thường chẩn đoán nhầm là cứng khớp vai hoặc đau rễ cổ.

Các nghiên cứu về Parkinson đều nhận định rằng thời gian mắc bệnh càng dài         (> 5 năm), khả năng vận động cũng như phục vụ sinh hoạt cá nhân càng hạn chế. Do vậy, đau do căng cứng cơ và khó khăn trong vận động khớp càng lớn. Hầu hết những than phiền về đau trong bệnh Parkinson đều liên quan đến triệu chứng vận động [5]. Về phương diện sinh lý, những rối loạn trong hệ Dopaminergic là con đường dẫn tới loạn chính của cả hai triệu chứng vận động và đau. Ngoài ra, còn có những nguyên nhân khác dẫn đến đau như các kích thích được bắt nguồn trực tiếp từ bất thường về vận động. Từ lâm sàng và một số đặc điểm trong điều trị rất có ích cho việc phân biệt giữa đau liên quan đến triệu chứng vận động, là triệu chứng đau xuất hiện sớm và đau muộn xuất hiện trong quá trình điều trị.

Tỷ lệ BN bị đau tăng dần theo mức độ bệnh. Mức độ bệnh nặng và rất nặng có tỷ lệ BN cao nhất (94,1%), mức độ nhẹ có tỷ lệ thấp nhất (41,7%).

Nhiều BN xuất hiện xu hướng biến đổi khi điều trị dopamin kéo dài, dẫn tới tình trạng on/off (mở/tắt). Bên cạnh biến đổi đặc trưng về vận động, đau cùng với hệ thần kinh thực vật và các triệu chứng        về nhận thức có thể xếp vào nhóm triệu chứng biến đổi ngoài rối loạn vận động cùng với trạng thái on/off, tình trạng này xuất hiện ở 60% BN [6].

Trong suốt giai đoạn ’’off’’ của bệnh, khi nồng độ dopamin ở mức độ thấp, các kiểu đau khác nhau kết hợp với triệu chứng vận động có thể quan sát thấy. Triệu chứng xuất hiện đầu tiên và rõ nhất là tình trạng cứng cơ vào buổi sáng sớm khi nồng độ dopamin ở mức độ thấp đi kèm với hạn chế vận động [5]. Loạn trương lực cơ điển hình giống như tình trạng bị chuột rút đột ngột khi uốn cong bàn chân, chồng cây chuối và đôi khi duỗi thẳng đầu gối. Rối loạn trương lực cơ nặng gây chứng chuột rút, đau dữ dội, thường đi kèm với những bắt thường      về vận động. BN có thể phải tỉnh dậy buổi sáng sớm vì chứng co cứng này. Ngoài ra, những phần khác của cơ thể, đặc biệt vùng ngoại vi thấp hơn có thể bị đau dữ dội do cứng cơ trong suốt quá trình “off”.

Đau cũng có thể kết hợp với rối loạn hai pha trong suốt quá trình từ khi bắt đầu đến khi kết thúc thời gian tác dụng của levodopa. Một số BN phải chịu đựng cơn đau xuất hiện khi bắt đầu dùng        một liều thuốc levodopa cho đến khi nó bắt đầu có tác dụng, sau đó cơn đau sẽ mất khi thuốc đạt liều hiệu quả tác dụng tối đa.

Tỷ lệ BN bị đau tăng dần theo giai đoạn bệnh ở giai đoạn IV, hầu hết BN đều có triệu chứng đau, giai đoạn I có tỷ lệ thấp nhất (33,3%).

Ở giai đoạn muộn của bệnh Parkinson, cứng cơ tăng dần và hạn chế vận động gây rối loạn tư thế, đó là lý do dẫn đến triệu chứng đau ở hệ cột sống như đau cột sống thắt lưng và cột sống cổ. Nếu BN chỉ phải chịu đựng một triệu chứng hoặc do thoái hóa biến dạng hệ cơ xương khớp, hoặc đau thụ cảm, hoặc đau thần kinh, mỗi nguyên nhân chỉ gây ra tình trạng đau it (đau thứ yếu) đối với vấn đề sức khỏe. Khi kết hợp những nguyên nhân này dẫn đến tình trạng đau dai dẳng, mạn tính.

Tỷ lệ đau tăng dần theo mức độ trầm cảm ở BN Parkinson. Mức độ trầm cảm nặng có tỷ lệ bị đau cao nhất (87,5%).

Trầm cảm là một trong những bệnh tương đối phổ biến, trong đó triệu chứng đau là nổi bật. Các thuốc chống trầm cảm ba vòng cũng có tác dụng giảm đau thực sự ở BN có triệu chứng trầm cảm nổi trội.


KẾT LUẬN

- 76,4% BN Parkinson xuất hiện triệu chứng đau. BN chủ yếu bị đau ở mức độ nhẹ và trung bình (76,2%).

- 46,5% BN có trạng thái bồn chồn đứng ngồi không yên, đau  kèm theo tăng trương lực cơ (44,2%) và đau cơ xương khớp (32,6%).

- Tỷ lệ BN có triệu chứng đau tăng dần theo thời gian mắc bệnh, mức độ bệnh và giai đoạn bệnh Parkinson. Với thời gian mắc bệnh > 5 năm, giai đoạn IV của bệnh, hầu hết BN đều có triệu chứng đau. Mức độ bệnh nặng và rất nặng có tỷ lệ đau cao nhất (94,1%).

Tỷ lệ đau tăng dần theo mức độ trầm cảm ở BN Parkinson. Mức độ trầm cảm nặng có tỷ lệ bị đau cao nhất (87,5%).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Quang Cường. Bệnh và hội chứng Parkinson. Nhà xuất bản Y học. Hà Nội. 2002.

2. Lê Đức Hinh. Bệnh Parkinson. Nhà xuất bản Y học. Hà Nội. 2008.

3. Lê Minh. Triệu chứng ngoài vận động của bệnh Parkinson. Chương trình đào tạo liên tục: Điều trị bệnh Parkinson và các rối loạn vận động khác cập nhật từ MDS 2014. 2014.

4. Poewe, Wenning. The history natural of  Parkinson’s disease. Annneurol. 1998, 44 supple 1: S1-S9.

5. Beiske AGLoge JHRonningen A, Svensson E. Pain in Parkinson's disease: Prevalence and characteristics. 2009, 141 (1 - 2), pp.173-177.

6. B Ford. Pain in Parkinson's disease. In Manuchair Ebadi and Ronald F Pfeiffer editors Parkinson’s disease. CRC Press. 2005, p.199.

 

Phan Việt Nga*; Hoàng Thị Dung*; Đào Hùng Vương*

 

Dịch vụ thiết kế website wordpress