Trang chủ Thông tin y khoa Thông tin y học Một số xét nghiệm mới trong đánh giá tổn thương thận

Một số xét nghiệm mới trong đánh giá tổn thương thận

T6, 09/10/2020

Theo NHANES (National Health and Nutrition Examination Survey) của Mỹ công bố năm 2007 tỷ lệ bệnh thận mạn trong cộng đồng là 15%, mỗi bệnh nhân suy thận mạn vào giai đoạn cuối điều trị thay thế thận, tương ứng với ngoài cộng đồng có khoảng 100 người đang bị bệnh thận ở những giai đoạn khác nhau. Tại các nước đang phát triển chỉ 10 - 20% bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối được điều trị. Tại Việt nam, số lượng suy thận mới mắc khoảng 500 bệnh nhân/triệu dân/năm, số lượng bệnh thận được ghép thận còn rất hạn chế. Những kết quả này chứng tỏ rằng suy thận mạn nói riêng và các bệnh lý về thận nói chung có xu hướng gia tăng ở cả Việt Nam và thế giới, đang là một gánh nặng cho toàn xã hội.

Trong những thập kỷ qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cơ chế bệnh sinh….của thương tổn thận. Nhiều kỹ thuật mới với phương tiện hiện đại đã được áp dụng trong điều trị bệnh (lọc màng bụng, thận nhân tạo, lọc máu liên tục.), đã góp phần cứu sống nhiều bệnh nhân. Tuy nhiên tỷ lệ tử vong của bệnh trong nhiều thập kỷ không được cải thiện, vẫn còn cao (từ 40-85%). Một trong những nguyên nhân là do thiếu các tiêu chí thống nhất trong chẩn đoán tổn thương thận chủ yếu dựa vào nồng độ creatinin máu, mặt khác thì khi số lượng nephron chức năng giảm 75% thì mức lọc cầu thận giảm 50% so với bình thường, lúc này mới bắt đầu xuất hiện các triệu  chứng của bệnh thận mạn; Do đó, thương tổn thận thường được chẩn đoán muộn và khó điều trị.

 

 

Trong những năm gần đây, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo về cách tiếp cận các chỉ số sinh học trong máu và nước tiểu   nhằm phát hiện sớm tổn thương ở thận như: Neutrophil Gelatinase Associated Lipocalin (NGAL), Kidney injury molecule-1 (KIM-1).

 

 

1. NEUTROPHIL GELATINASE ASSOCIATED LIPOCALIN (NGAL)

Neutrophil Gelatinase Associated Lipocalin (NGAL, còn được gọi là lipocalin-2, siderocalin, 24p3, hoặc LCN2) là một protein có trọng lượng phân tử 25kDa thuộc nhóm lipocain, có vai trò gắn và vận chuyển các phân tử nhỏ kỵ nước.

 

 

Cấu trúc NGAL bao gồm một chuỗi polypeptide có 178 amino acid liên kết với nhau  bởi cầu nối disulphite, được sản xuất bởi bạch cầu trung tính với 3 dạng là 25 kDa monomer hoặc 46 kDa disulfide liên kết homodimer hoặc như một heterodimer liên disulfide với gelatinase B.

NGAL đã được ghi nhận là một dấu ấn sinh học có vai trò đáng kể trong chẩn đoán sớm bệnh thận, đặc biệt là tổn thương ống thận. Nhiều nghiên cứu cho thấy khi gây tổn thương thực nghiệm cho thận bằng cách gây độc và / hoặc gây thiếu máu cục bộ cấp tính, nồng độ NGAL tăng lên trong máu và nước tiểu.

Haase và các cộng sự khẳng định giá trị chẩn đoán và tiên lượng của NGAL như một dấu ấn sinh học sớm trong suy thận cấp trong một số nghiên cứu với trên 2.500 bệnh nhân. Nồng độ NGAL tăng trước rất nhiều so với dấu hiệu cổ điển như Creatinin.

 

 

2. KIDNEY INJURY MOLECULE - 1(KIM-1)

Kidney injury molecule (KIM-1) là một glycoprotein màng tế bào có trọng lượng phân tử khoảng 104kDa , bao gồm một chuỗi polypeptid có 339 acid amin với đầu N tận giống như immunoglobulin

 

KIM -1 đã bắt đầu được nhiều nghiên cứu đề cập là môt dấu ấn sinh học mới trong phát hiện và theo dõi bệnh thận.

Theo Femker Waander và cộng sự nồng độ KIM-1 trong nước những bệnh nhân thiếu máu cục bộ có tổn thương thận có thể tăng lên 3-7ng/ml. Nồng độ KIM-1 tăng lên sớm nhất là 6 giờ sau khi có thiếu máu cục bộ thận và duy trì ở mức cao trong vòng 48 giờ.

Won K.Hanvà cộng sự nghiên cứu nồng độ KIM-1 trong nước tiểu trên 40 bệnh nhân trong đó có 23 người bị suy thận cấp và 9 bệnh nhân bị suy thận mạn và 8 bênh nhân bình thường không có bằng chứng về bệnh thận. Các bênh nhân được chọn ngẫu nhiên từ bệnh viện Đa khoa Massachusset nồng độ KIM-1 bình thường tăng lên đáng kể ở những bệnh nhân thiếu máu cục bộ (2,92 ± 0,61, N = 7) so với mức độ suy thận cấp (0,63 ± 0,17, P <0,01, N = 16) Bệnh thận mãn tính (0,72 ± 0,37, P <0,01, N = 9). KIM-1 có thể phát hiện được trong nước tiểu của bệnh nhân và đóng vai trò là một dấu hiệu sinh học hữu ích cho tổn thương ống lượn gần, giúp choviệc chẩn đoán sớm bệnh đồng thời nâng cao hiệu quả điềutrị.

Theo nghiên cứu của Zhang Z và cộng sự độ nhạy của KIM-1 nước tiểu trong chẩn đoán AKI là 74.0% và độ đặc hiệu là 86.0%. KIM-1 có ưu thế trong việc chẩn đoán sớm AKI trong vòng 24 giờ trước khi creatinin huyết thanh tăng lên giúp cho việc điều trị có hiệu quả.

 

Trên đây là 2 trong số nhiều dấu ấn sinh học đánh giá tình trạng, giai đoạn tổn thương thận đang được nhiều nghiên cứu trên thế giới đề cập và đã được triển khai tại Khoa Sinh hóa – Bệnh viện Quân y 103

 

 

Huỳnh Quang Thuận

 


Dịch vụ thiết kế website wordpress