Trang chủ Thông tin y khoa Thông tin y khoa Một số nhận xét về mật độ xương cột sống thắt lưng ở bệnh nhân Parkinson

Một số nhận xét về mật độ xương cột sống thắt lưng ở bệnh nhân Parkinson

T6, 09/10/2020

TÓM TẮT

Mục tiêu: nhận xét bước đầu về thay đổi mật độ xương (MĐX) ở bệnh nhân (BN) mắc bệnh Parkinson. Đối tượng và phương pháp: 24 BN Parkinson (14 nam, 10 nữ), tuổi mắc bệnh trung bình 65,79 ± 6,78 và 26 đối tượng làm nhóm chứng. Đo MĐX cột sống thắt lưng bằng phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép (DEXA). Kết quả: MĐX và chỉ số T-score có giá trị trung bình ở nhóm bệnh Parkinson là 0,69 ± 0,07 g/cm2 và -2,78 ± 0,28 (cột sống), 0,616 ± 0,11 g/cm2 và -2,51 ± 0,21 (cổ xương đùi), giảm có ý nghĩa so với nhóm chứng. Tỷ lệ BN có biểu hiện thiểu xương 20,83%, loãng xương và loãng xương nặng 62,5%, BN ở giai đoạn nặng có nguy cơ loãng xương cao hơn, nhưng chưa có ý nghĩa thống kê. Kết luận: loãng xương khá thường gặp ở bệnh Parkinson, biểu hiện này có thể tăng lên cùng với giai đoạn bệnh, mức độ nặng của bệnh.

* Từ khóa: Bệnh Parkinson; Loãng xương; Mật độ xương.

Some Comments on Bone Mineral Density of the Spine in Patients with Pakinson’s Disease

Summary

Objective: Comment initial changes of bone mineral density in patients with Parkinson's disease. Subjects and methods: 24 patients with Parkinson (14 males, 10 females) with an average age of 65.79 ± 6.78 and 26 subjects as controls. Measurement of bone mineral density by DEXA method. Results: BMD and T-score index average in the group Parkinson were 0.69 ± 0.07 g/cm2 and -2.78 ± 0.28 (in the lumbar spine). 0.616 ± 0.11 g/cm2 and -2.51 ± 0.21 in the femoral neck, compared with the control group decreased significantly. The patients with BMD decrease was 20.83%, osteoporosis and severe osteoporosis was 62.5%; the patients with advanced stage had osteoporosis risk higher but not statistically significant. Conclusion: Osteoporosis is quite common in the patients with Parkinson's disease, this expression can be increased with the stage and severity of disease.

* Key words: Parkinson's disease; Osteoporosis; Bone mineral density.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Parkinson là bệnh thoái hóa mạn tính của hệ thần kinh trung ương, hay gặp ở người cao tuổi. Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về lâm sàng, cơ chế bệnh sinh, các yếu tố nguy cơ và điều trị bệnh Parkinson. Theo Hauser và CS (1997), tỷ lệ bị gãy xương ở BN Parkinson cao hơn 3 lần so với tỷ lệ mắc trong cộng đồng cùng lứa tuổi [7]. Gần đây, nhiều nghiên cứu cho rằng ở BN mắc Parkinson, MĐX giảm hơn so với nhóm chứng, đây là hậu quả của rối loạn vận động hay có các rối loạn chuyển hóa xương kèm theo. Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về MĐX ở các bệnh như đái tháo đường, gout [1, 5, 6], nhưng chưa có công trình nào trên BN Parkinson được công bố. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm: Nhận xét bước đầu về thay đổi MĐX ở BN mắc bệnh Parkinson.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu.

- Nhóm bệnh: 24 BN được chẩn đoán mắc bệnh Parkinson theo tiêu chuẩn chẩn đoán Parkinson của Hội Ngân hàng Não và bệnh Parkinson Anh Quốc, điều trị tại Khoa Nội Thần kinh, Bệnh viện Quân y 103.

- Nhóm chứng: 26 đối tượng không mắc bệnh Parkinson hoặc các bệnh thần kinh trung ương khác, có đặc điểm về tuổi, giới tương tự nhóm bệnh.

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- Không sử dụng corticoid kéo dài.

- Không mắc (hoặc bệnh Parkinson có kèm theo) các bệnh có liên quan tới nguy cơ làm giảm MĐX như đái tháo đường, gout, suy thận có lọc máu chu kỳ...

- Rối loạn chức năng tuyến cận giáp.

- Hội chứng Parkinson.

2. Phương pháp nghiên cứu.

Tiến cứu, mô tả cắt ngang có đối chứng.

- Lập hồ sơ bệnh án chi tiết phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, BN được khám lâm sàng chi tiết và đầy đủ.

- Lựa chọn BN vào 2 nhóm theo tiêu chí nghiên cứu:

+ Chẩn đoán xác định bệnh Parkinson theo tiêu chuẩn của Hội Ngân hàng Não và bệnh Parkinson Anh Quốc.

+ Chẩn đoán giai đoạn bệnh theo Hoehn và Yarh.

+ Chẩn đoán mức độ bệnh theo thang điểm đánh giá bệnh Parkinson.

- Đo MĐX bằng phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép (Dual Energy         X-ray absorbtiometry - DEXA) tiến hành trên máy HOLOGIC QDR 4500 tại Bệnh viện Quân y 103.

+ Vị trí đo: cột sống thắt lưng (từ L1-L4, lấy giá trị trung bình), cổ xương đùi.

+ Đánh giá MĐX: theo tiêu chuẩn của WHO dựa vào MĐX (BMD - Bonne Mineral Density) và chỉ số T-score để chẩn đoán loãng xương, xác định như sau:

. BMD bình thường: T-score > -1.

. Thiểu xương (osteopenia): T-score: từ -1 đến -2,5.

. Loãng xương: T-score < -2,5.

. Loãng xương nặng: T-score < -2,5 và có một hoặc nhiều gãy xương.

* Xử lý số liệu: bằng phần mềm SPSS, so sánh tỷ lệ, so sánh nhóm bệnh và chứng, mối liên quan giữa MĐX với mức độ bệnh, giai đoạn và thời gian mắc bệnh.


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Đặc điểm chung.

24 BN nghiên cứu (nam 14, nữ 10), tuổi trung bình 65,79 ± 6,78, chủ yếu từ 60 - 79 tuổi. Chọn 26 đối tượng nhóm chứng có đặc điểm về tuổi, giới không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh.

Bảng 1: Đặc điểm về thời gian mắc bệnh, giai đoạn và mức độ bệnh ở nhóm bệnh (n = 24).

Tất cả BN nhóm nghiên cứu đều có thời gian mắc bệnh < 05 năm, chủ yếu ở giai đoạn 1, 2, 3 và mức độ bệnh nhẹ đến nặng, không có trường hợp nào bệnh rất nặng.

2. Kết quả đánh giá MĐX ở nhóm nghiên cứu.

Bảng 2: Giá trị trung bình MĐX.

MĐX trung bình khi đo xương cột sống ở nhóm bệnh thấp hơn nhóm chứng có          ý nghĩa thống kê. Trong nhóm bệnh, MĐX của nữ thấp hơn nam (p < 0,05). Ở nhóm chứng, MĐX của 2 giới tương đương.

Bảng 3: Giá trị trung bình MĐX cổ xương đùi.

MĐX trung bình khi đo cổ xương đùi ở nhóm bệnh thấp hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê. Ở cả 2 nhóm, MĐX của nữ thấp hơn nam (p < 0,05).

Bảng 4: Giá trị trung bình T-score.

Chỉ số T-score của nhóm bệnh giảm hơn nhóm chứng ở cả 2 vị trí đo, tuy nhiên,  chỉ số này ở cột sống thấp hơn ở xương đùi. T-score giảm đồng đều ở cả nam và nữ, nữ giảm nặng hơn nam ở cả nhóm bệnh và nhóm chứng. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Bảng 5: Mức độ loãng xương.

Nhóm bệnh có tỷ lệ loãng xương và loãng xương nặng cao hơn nhóm chứng, trong khi tỷ lệ giảm MĐX ở nhóm chứng cao hơn nhóm bệnh, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Bảng 6: Mối liên quan giữa MĐX với mức độ và giai đoạn bệnh.


Ở nhóm bệnh, tỷ lệ loãng xương đều cao ở cả nhóm có mức độ rối loạn vận động nhẹ và nặng, chưa thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.


BÀN LUẬN

1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu.

Với thời gian còn ngắn, vì các xét nghiệm chuyên khoa mới được triển khai, chúng tôi chỉ chọn được 24 BN mắc bệnh Parkinson, với tuổi mắc trung bình 65,79 ± 6,78, nam nhiều hơn nữ. Đây là nhóm tuổi có độ tuổi trung bình khá cao so với tuổi mắc bệnh Parkinson trung bình ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây đều thấy BN có tuổi mắc bệnh          > 60 tuổi [2, 4]. Phải chăng khi tuổi thọ tăng cao, chất lượng cuộc sống tăng thì tuổi mắc bệnh của BN cũng tăng theo?. Chúng tôi chọn nhóm chứng có độ tuổi  và giới tương tự nhóm bệnh, cả 2 nhóm đều loại trừ những BN mắc kèm theo        các bệnh có ảnh hưởng tới chuyển hóa xương để loại trừ trường hợp loãng xương thứ phát, nhằm đánh giá một cách khách quan tình trạng loãng xương ở BN Parkinson.

Tất cả BN trong nhóm đều mới mắc bệnh trong vòng 5 năm trở lại đây, hầu hết ở giai đoạn 1 - 3 và mức độ bệnh từ nhẹ đến nặng, không có trường hợp nào quá nặng hoặc ở giai đoạn 5 của bệnh. Đây là những BN được chọn ngẫu nhiên trong quá trình điều trị.

2. Kết quả xét nghiệm MĐX.

Bảng 2, 3, 4 cho thấy, mật độ trung bình xương đo ở cột sống và cổ xương đùi thông qua hai chỉ số MĐX và T-score ở nhóm bệnh thấp hơn nhóm chứng có        ý nghĩa thống kê. Chúng tôi thấy ở cả 2 nhóm, MĐX của nữ giảm hơn nam và đều ở trong ngưỡng thiểu xương đến loãng xương. MĐX đùi thấp hơn xương cột sống. Điều này phù hợp với tuổi nhóm nghiên cứu chúng tôi chọn, vì ngoài loãng xương thứ phát còn có loãng xương nguyên phát (do tuổi, sau mãn kinh). BN của chúng tôi có MĐX khá thấp so với nghiên cứu của Hồ Phạm Thục Lan và CS, tác giả nghiên cứu MĐX ở lứa tuổi 43 (nam) và 48 (nữ) thấy MĐX trung bình lần lượt là 0,93 và 0,97 (cột sống), 0,75 và 0,67 g/cm2 (cổ xương đùi) [3]. Tuy nhiên, rõ ràng là nhóm bệnh bị loãng xương nặng hơn nhóm chứng. Chúng tôi cho rằng, ở BN Parkinson, loãng xương sớm và nặng có thể do các nguyên nhân sau: do triệu chứng giảm vận động, do ít ra ngoài nắng nên hấp thu vitamin D tự nhiên giảm, do rối loạn thần kinh thực vật nên hấp thu thức ăn cũng giảm. Như vậy, BN Parkinson có nhiều yếu tố nguy cơ gây loãng xương hơn những người khác cùng độ tuổi. Nhiều nghiên cứu khác cũng thấy nồng độ vitamin D huyết thanh ở BN Parkinson thấp hơn nhóm chứng, từ đó nguy cơ loãng xương càng tăng       [8, 9].

Về mức độ loãng xương, nhóm bệnh có tỷ lệ loãng xương và loãng xương nặng cao hơn nhóm chứng, trong khi tỷ lệ giảm MĐX ở nhóm chứng cao hơn nhóm bệnh, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (bảng 5). Lý do là với tuổi của nhóm nghiên cứu, quá trình loãng xương nguyên phát cũng đã xảy ra nhưng phần nhiều vẫn ở giai đoạn thiểu xương, còn nhóm bệnh diễn biến loãng xương nhanh hơn nên phần lớn BN bị loãng xương và loãng xương nặng. Điều này chứng minh cho lập luận rằng bệnh Parkinson có thể làm thúc đẩy quá trình loãng xương nhanh và nặng hơn [7]. Torsney KM và CS (2014) trong một phân tích gộp 22 nghiên cứu trước đó thấy BN Parkinson có tỷ lệ gãy xương đùi, xương cột sống cao hơn nhóm chứng, tác giả cũng thấy MĐX ở BN Parkinson thấp hơn nhóm chứng, nguy cơ loãng xương cao gấp 2,6 lần so với nhóm chứng [10].

Về mối liên quan giữa mức độ loãng xương với mức độ bệnh và giai đoạn bệnh (bảng 6), có thể thấy bệnh càng nặng, giai đoạn muộn thì tỷ lệ loãng xương sẽ cao hơn, tuy nhiên BN ở nghiên cứu này mới mắc trong 5 năm đầu cũng có tỷ lệ loãng xương cao, nhưng chưa có ý nghĩa thống kê. Vì mẫu nghiên cứu còn nhỏ, thời gan ngắn nên chúng tôi chưa có kết luận về mối liên quan giữa mức độ bệnh và thời gian mắc Parkinson với MĐX và loãng xương.

Từ kết quả nghiên cứu này, mặc dù với số lượng BN còn khiêm tốn nhưng chúng tôi thấy tỷ lệ giảm MĐX và loãng xương ở BN Parkinson khá cao, điều này có thể làm tăng nguy cơ gãy xương ở BN Parkinson.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu MĐX ở 24 BN mắc bệnh Parkinson (14 nam, 10 nữ) có tuổi trung bình 65,79 ± 6,78 và 26 đối tượng làm nhóm chứng, chúng tôi rút ra kết luận:

- Mật độ xương và chỉ số T-score có giá trị trung bình ở nhóm bệnh Parkinson là 0,69 ± 0,07 g/cm2 và -2,78 ± 0,28 (cột sống), 0,616 ± 0,11 g/cm2 và -2,51 ± 0,21 (cổ xương đùi), giảm hơn so với nhóm chứng có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ BN có biểu hiện thiểu xương là 20,83%; loãng xương và loãng xương nặng 62,5%.

- Ở những BN nặng, giai đoạn muộn của bệnh, tỷ lệ có giảm MĐX và loãng xương cao, tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa. Những BN mắc bệnh trong vòng 5 năm đầu cũng có tỷ lệ loãng xương cao.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Văn Chính. Nghiên cứu MĐX và tỷ lệ loãng xương ở BN gout bằng phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép (DEXA). Luận văn Bác sỹ Chuyên khoa cấp 2. Học viện Quân y. 2012.

2. Hoàng Thị Dung. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và nồng độ dopamin huyết tương ở BN Parkinson. Luận văn Thạc sỹ Y học. Học viện Quân y. 2014.

3. Hồ Phạm Thục Lan, Phạm Ngọc Hoa  và CS. Chẩn đoán loãng xương: ảnh hưởng của giá trị tham chiếu. Thời sự Y học. 2011, số 57, tr.3-10.

4. Nguyễn Văn Quảng. Nghiên cứu các triệu chứng ngoài rối loạn vận động ở BN Parkinson. Luận văn Thạc sỹ Y học. Học viện Quân y. 2013.

5. Ngô Thị Thu Trang. Nghiên cứu MĐX tỷ lệ loãng xương ở BN nữ đái tháo đường týp 2. Luận văn Bác sỹ Nội trú. Học viện Quân y. 2013.

6. Ngô Thị Mai Xuân. Nhận xét MĐX ở BN nữ đái tháo đường týp 2 và các yếu tố liên quan. Luận văn Bác sỹ Chuyên khoa Cấp 2. Trường Đại học Y Hà Nội. 2007.

7. Hauser RA et al. Parkinson's disease - Question and Answers, 2nd edition. Merit Pub Intl. 1997, p.152.

8. Iwamoto J, Sato Y, Takeda T, Matsumoto H. Strategy for prevention of hip fractures in patients with Parkinson's disease. World J Orthop. 2012, 3 (9), pp.137-141.

9. Lyell V, Henderson E, Devine M, Gregson C. Assessment and management of fracture risk in patients with Parkinson's disease. Age Ageing. 2014, Sep, 18.

10. Torsney KM, Noyce AJ. Bone health in Parkinson's disease: a systematic review and meta-analysis. J Neurol Neurosurg Psychiatry. 2014, 85 (10), pp.1159-1166.

 

Nhữ Đình Sơn*; Hoàng Lê Nguyễn**; Nguyễn Thị Cúc*

Dịch vụ thiết kế website wordpress