Tạp chí Y học Quân sự (2018), số 5, vol 43: 100 - 107
Vũ Nhất Định*
Phạm Ngọc Thắng*
TÓM TẮT
Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá kết quả ứng dụng kỹ thuật “all inside” tái tạo dây chằng chéo khớp gối và nhận xét về ưu nhược điểm của kỹ thuật.
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu sử dụng gân cơ bán gân tự thân gập 4 làm mảnh ghép dây chằng, đường hầm chày được khoan ngược từ trong khớp ra ngoài bằng Flipcutter. Mảnh ghép dây chằng được kéo vào đường hầm đùi và đường hầm chày qua lối vào trước trong. Hai đầu mảnh ghép được cố định neo ra mặt ngoài đường hầm chày và đường hầm đùi bằng TightRopeRT.
Đánh giá kết quả xa ở thời điểm trên 12 tháng sau phẫu thuật. Đánh giá mức độ lỏng gối bằng test ngăn kéo trước, Lachman, Pivot Shift; KT1000. Đánh giá kết quả theo thang điểm Lysholm.
Kết quả nghiên cứu:
Nghiên cứu gồm 117 trường hợp, tuổi trung bình là 32,87 (19 – 60 tuổi), có 32/117 (27,35%) trường hợp tổn thương sụn chêm kết hợp.
Đường kính mảnh ghép dây chằng: 7 – 9mm, dài: 6 – 7,5mm. Thời gian phẫu thuật từ 30 – 45 phút (khi không có tổn thương sụn chêm).
Có 92/117 trường hợp được theo dõi đánh giá kết quả trên 12 tháng. Có 87/92 (89,13%) trường hợp dấu hiệu ngăn kéo trước, lachman và pivot shift đều âm tính, 4/92 (4,34%) trường hợp có dấu hiệu ngăn kéo trước dương tính và 1/92 (1,09%) trường hợp dấu hiệu ngăn kéo trước, lachman và pivot shift đều dương tính.
Có 62/92 trường hợp được đo mức trượt ra trước của mâm chày bằng KT1000: 57/62 trường hợp có mức trượt ra trước <1mm, 4/62 trường hợp có mức trượt 1 – 2mm và 1/62 trường hợp có mức trượt ra trước 4mm.
Điểm Lysholm đạt từ 75 – 100 điểm. Rất tốt có 82/92 (89,13%) trường hợp, tốt có 9/92 (9,78%) trường hợp, trung bình có 1/92 (1,09%) trường hợp.
Kết luận:
Kỹ thuật mang lại kết quả tốt và rất tốt: 91/92 (98,91%) trường hợp.
Ưu điểm là giữ gìn được gân cơ thon, thời gian mổ nhanh.
Từ khóa: Dây chằng chéo trước, kỹ thuật “All inside”, bệnh viện quân y 103
* Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình – BVQY103
RESULTS IN ALL INSIDE
ANTERIOR CRUCIATE LIGAMENT RECONSTRUCTION
Vu Nhat Dinh*, Pham Ngoc Thang*
SUMMARY
Purpose:
The purpose of this study was to acssess the clinical results, advantage and disavantage of all inside ACL reconstruction.
Materials and methods:
The semitendinosus alone is harvested, quadrupled and attached to two suspensory fixation devices. Tibial sockets are produced using a retrograde drill by Flipcutter. Pass the semitendinosus autograft through the anteromedial portal in the femoral and tibial sockets, engaged the cortical button on the femur, and then final fixation on the tibial side.
Patients were evaluated postoperatively. Objective assessment of knee laxity was performed using the KT1000, anterior drawer test, lachman test, pivot shift test. Lysholm scoring was asessed.
Results:
117 patients, mean age 32,87 years (range 19 to 60) were included. There were 32 cases (27,35%) involving additional meniscal surgery. The graft diameter was 7 – 9 mm, the graft length was 6mm – 7,5mm. The time operative was range 30 - 45 min (not involve meniscal injury).
Mean follow – up more than 12 months: 92/117 cases. The anterior drawer (-), lachman (-), pivot shift (-) in 87/92 (89,13%) cases; the anterior drawer (+) in 4/92 (4,34%) cases; the anterior drawer (+), Lachman (+), Pivot Shift (+) in 1/92 (1,09%) case. The anteroposterior laxity was assessed by KT1000 for 62/92 cases: less than 1mm in 57/62 cases, range 1 – 2mm in 4/62 cases, 4mm in 1/62 case. The Lysholm range 75 points to 100 points. The distributions of Lysholm score were excellent in 82/89 (89,13%) cases, good in 9/92 (9,78%) cases, faire in 1/92 (1,09%) case.
Conclusions:
This technique demonstrates good and excellent outcomes in 91/92 (98,91%) cases.
The advantages of technique are several: leave the gracilis, quickly operation.
Key words: all inside anterior cruciate ligament, military university hospital 103
* Trauma and Orthopaedic Centre – Military University Hospital 103









