Trang chủ Thông tin y khoa Thông tin y khoa Gây mê tĩnh mạch bằng Propofol và Fentanyl cho thủ thuật chọc hút noãn

Gây mê tĩnh mạch bằng Propofol và Fentanyl cho thủ thuật chọc hút noãn

T6, 09/10/2020

TÓM TẮT

Mục đích: đánh giá hiệu quả vô cảm và các tác dụng không mong muốn của gây mê tĩnh mạch (TM) bằng propofol và fentanyl cho thủ thuật chọc hút noãn. Đối tượng và phương pháp: 80 bệnh nhân (BN) có chỉ định chọc hút noãn, chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 40 BN. BN của hai nhóm đều được tiền mê bằng tiêm TM 50 mcg fentanyl và 0,25 mg atropin ngay trước khởi mê và khởi mê bằng tiêm TM propofol 1% liều 2 mg/kg. BN nhóm 1 được duy trì mê bằng truyền propofol qua bơm tiêm điện. BN nhóm 2 được duy trì mê bằng tiêm TM ngắt quãng propofol. Kết quả: tỷ lệ BN có điểm PRST là 0 tại các thời điểm nghiên cứu ở nhóm 1 cao hơn nhóm 2  (p < 0,05). Tỷ lệ BN có điểm PRST là 1 tại các thời điểm nghiên cứu ở nhóm 1 thấp hơn             nhóm 2 (p < 0,05). Thời gian thoát mê ở nhóm 1 (4,86 ± 1,04 phút) nhanh hơn so với nhóm 2 (6,1 ± 0,75 phút) (p < 0,05). Tổng liều propofol ở nhóm 1 (187,28 ± 24,66 mg) thấp hơn so với nhóm 2 (206,32 ± 22,43 mg) (p < 0,05). Đau ở chỗ tiêm gặp ở nhóm 1 là 10% và nhóm 2 là 7,5% (p > 0,05); SpO2 < 95% ở nhóm 1 (2,5%) thấp hơn nhóm 2 (10%) (p < 0,05) và hạ huyết áp ở nhóm 1 (5%) thấp hơn nhóm 2 (17,5%) (p < 0,05). Kết luận: gây mê TM bằng propofol và fentanyl hiệu quả và an toàn cho thủ thuật chọc hút noãn.

* Từ khóa: Chọc hút noãn; Gây mê tĩnh mạch propofol.

Propofol and Fentanyl Intravenous Anaesthesia for Oocyte Retrival Procedure

Summary

Objectives: To evaluate anaesthesia efficacy and unwanted effects of propofol and fentanyl intravenous anaesthesia for oocyte retrival procedure. Subject and methods: 80 cases had indication for oocyte retrival procedure and were divided into two groups, 40 cases for each group. Cases of both group just before anaesthesia induction had intravenous injection of fentanyl 50 mcg and atropine 0.25 mg for premedication and anaesthesia induction by intravenous injection of propofol 1% 2 mg/kg. Cases of the first group were maintained by propofol pump intravenous infusion. Cases of the second group were maintained by propofol intermittent intravenous injection. Results: The rate of patients with PRST score = 0 at studying times in the first group were higher than in the second group (p < 0.05). The rate of patients                with PRST score = 1 at studying times in the first group were lower than in the second group (p < 0.05). Recovery duration in the first goup (4.86 ± 1.04 mins) was faster than in the second one (6.1 ± 0.75 mins) (p < 0.05). Propofol dosage in the first group (187.28 ± 24.66 mg) was lower than in the second one (206.32 ± 22.43 mg) (p < 0.05). Pain at injection site occurred in the first group and in the second one 10% and 7.5%, respectively (p > 0.05). The case rate with SpO2 < 95% in the first group (2.5%) was lower than in the second one (10%) (p < 0.05). The hypotension rate in the first group (5%) was lower than in the second group (17.5%) (p < 0.05). Conclusions: Propofol and fentanyl intravenous anaesthesia is efficacy and safe for oocyte retrival procedure.

* Key words: Oocyte retrival; Propofol intravenous anaesthesia.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay có nhiều phương pháp vô cảm cho thủ thuật chọc hút noãn trong phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) như gây tê tại chỗ, gây tê vùng và gây mê toàn thể. Phương pháp vô cảm cho thủ thuật này không những phải bảo đảm hiệu quả an toàn cho BN mà còn không ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh thành công.

Hiện nay, ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu đầy đủ về vô cảm ở BN chọc hút noãn. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với mục đích:

- Đánh giá hiệu quả vô cảm của propofol-fentanyl trong gây mê chọc noãn.

- Đánh giá các tác dụng không mong muốn của phương pháp này.

 

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu.

80 BN có chỉ định chọc hút noãn làm phương pháp IVF tại Trung tâm Mô phôi, Học viện Quân y từ 11 - 2013 đến 4 - 2014.

* Tiêu chuẩn lựa chọn: BN đồng ý tham gia nghiên cứu, có chỉ định gây mê ngoài phòng mổ, từ 20 - 45 tuổi, phân loại ASA I - II.

* Tiêu chuẩn loại trừ: BN có chống chỉ định gây mê TM với propofol, fentanyl, BN mắc bệnh lý tâm thần kinh hoặc khó giao tiếp về ngôn ngữ, có biến chứng do thủ thuật.

2. Phương pháp nghiên cứu.

Tiến cứu, thử nghiệm lâm sàng, có đối chứng. BN được bốc thăm ngẫu nhiên để vào hai nhóm nghiên cứu:

- Nhóm 1 (n = 40): khởi mê tiêm TM propofol 1% liều 2 mg/kg trong 30 giây, duy trì mê bằng truyền propofol qua bơm tiêm điện.

- Nhóm 2 (n = 40): khởi mê tiêm TM propofol 1% liều 2 mg/kg trong 30 giây, duy trì mê bằng tiêm từng liều propofol  bổ sung.

* Phương tiện, vật liệu nghiên cứu:

Propofol (biệt dược diprivan) ống 200 mg/20 ml (Hãng Astra-Zeneca, Thụy Điển), fentanyl ống 100 mcg/2 ml (Hãng Polfa, Ba lan). Bơm tiêm điện Terumo (Hãng Terumo, Nhật Bản). Máy theo dõi (Hãng NihonKohden, Nhật Bản).

* Phương pháp tiến hành:

- Chuẩn bị BN: kiểm tra xét nghiệm và tình trạng nhịn ăn uống trước thủ thuật 6 tiếng. Thiết lập đường truyền TM bằng kim luồn 20 G. Theo dõi điện tim ở đạo trình DII, huyết áp không xâm nhập. Thở oxy qua mask, lưu lượng 3 lít/phút.

- Tiền mê: tiêm TM 50 mcg fentanyl và 0,25 mg atropin ngay trước khởi mê.          - Khởi mê: cả hai nhóm đều khởi mê bằng tiêm chậm TM propofol 2 mg/kg. Khi BN mất ý thức và mất phản xạ mi mắt, thực hiện thủ thuật chọc hút noãn dưới hướng dẫn siêu âm.

- Duy trì mê:

+ Nhóm 1: duy trì mê bằng truyền propofol liều 6 mg/kg/giờ ngay sau khi khởi mê qua bơm tiêm điện. Nếu điểm đánh giá độ mê trên lâm sàng (PRST)              ≥ 3, tiêm TM ngắt quãng bổ sung qua bơm tiêm điện liều 0,5 mg/kg.

+ Nhóm 2: duy trì mê bằng tiêm TM ngắt quãng bổ sung từng liều propofol  0,5 mg/kg sau mỗi 4 - 5 phút khi điểm PRST ≥ 3.

- Kết thúc mê: ngừng tiêm propofol và ngừng truyền propofol qua bơm tiêm điện ngay khi kết thúc thủ thuật, chuyển BN về phòng hồi tỉnh, sau 3 giờ lưu tại phòng hồi tỉnh, cho BN về nhà nếu không có tác dụng không mong muốn.

* Chỉ tiêu nghiên cứu:

- Đặc điểm BN: tuổi, cân nặng, thời gian thực hiện thủ thuật chọc hút noãn tính từ khi bắt đầu chọc kim lấy noãn tới khi xong lần chọc kim lấy noãn cuối cùng, tổng số lượng noãn chọc được.

- Hiệu quả vô cảm:

+ Thời gian khởi mê (giây): tính từ khi tiêm thuốc propofol cho đến khi BN mê, mất phản xạ mi mắt.

+ Thời gian mê (phút): tính từ khi BN mê đến khi BN tỉnh táo định hướng đúng bản thân, không gian, thời gian.

+ Thời gian thoát mê (phút): tính từ  khi ngừng thủ thuật đến khi BN tỉnh táo định hướng đúng bản thân, không gian, thời gian.

+ Độ mê trên lâm sàng bằng bảng điểm PRST ở các thời điểm nghiên cứu T1, T2, T3­.

+ Số lần cử động của BN trong khi chọc hút noãn.

+ Liều lượng propofol khởi mê, tổng liều propofol đã dùng trong gây mê.

- Tác dụng không mong muốn: buồn nôn và nôn, nấc, đau tại chỗ tiêm, hạ huyết áp, SpO2 < 95%.

* Các thời điểm theo dõi nghiên cứu:

T0 (ngay trước tiền mê); T1 (khi mất đáp ứng lời nói, mất phản xạ mi mắt);             T2 (khi thực hiện thủ thuật được 2 phút); T3 (ngay trước khi kết thúc thủ thuật);             T4 (khi hồi tỉnh); T5 (khi xuất viện).

* Xử lý số liệu: bằng phần mềm Epi.info 7.0, khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05. Số liệu được biểu diễn dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn hoặc tỷ lệ %.


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

1. Đặc điểm BN

Bảng 1: Đặc điểm BN (n = 80).

Thời gian thực hiện thủ thuật ở nhóm 2 trong nghiên cứu của chúng tôi là 8,25 ± 3,16 phút, nhanh hơn so với Hoàng Văn Bách (15,87 ± 5,14 phút) [1].

2. Hiệu quả vô cảm.

Bảng 2: Hiệu quả vô cảm (n = 80).

Trong gây mê ngoại trú, thời gian khởi mê, gây mê và thoát mê là tiêu chuẩn hàng đầu được đặt ra. Thời gian khởi mê và gây mê trung bình giữa 2 nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Tuy nhiên, thời gian thoát mê của nhóm 1              (4,86 ± 1,04 phút) nhanh hơn so với nhóm 2 (6,1 ± 0,75 phút), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

 

 

Đỗ Thị Na gây mê TM propofol cho thủ thuật nội soi đại tràng nhận thấy, thời gian gây mê và thoát mê lần lượt là 21,60 ± 12,04 phút và 10,10 ± 3,95 phút [3]. Tào Ngọc Sơn an thần bằng propofol tiêm ngắt quãng nội soi đại tràng nhận thấy thời gian thoát mê 3,65 ± 2,67 phút [4].

Trong điều kiện gây mê ngoài phòng mổ với áp lực của BN đông và nhân              lực hạn chế, việc rút ngắn thời gian              gây mê và hồi tỉnh giúp giải quyết được nhiều BN hơn. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phương pháp gây mê bằng  bơm tiêm điện tỏ ra ưu việt hơn so với phương pháp duy trì mê bằng tiêm liều ngắt quãng khi rút ngắn được thời gian thoát mê.

Liều lượng propofol khi khởi mê giữa hai nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Tổng liều propofol ở nhóm 1 (187,2 ± 24,6 mg) thấp hơn so với nhóm 2 (206,3 ± 22,4 mg), khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), do đó thời gian thoát mê ở nhóm 1 nhanh hơn nhóm 2.

Đỗ Thị Na thông báo tổng liều propofol sử dụng trong thủ thuật nội soi đại tràng là 145,85 ± 53,23 mg [3]. Tào Ngọc Sơn an thần bằng propofol tiêm ngắt quãng cho thủ thuật nội soi đại tràng nhận thấy tổng liều propofol là 89,19  45,85 mg [4]. Có lẽ, do các tác giả này tiền mê bằng tiêm TM hypnovel 0,05 mg/kg trước khi khởi mê bằng propofol nên tổng liều propofol sử dụng ít hơn chăng?.

Như vậy, với tổng liều propofol thấp hơn, nhưng gây mê đủ sâu ở nhóm bơm tiêm điện đã tạo thuận lợi cho thủ thuật nội soi và thoát mê nhanh hơn, cho thấy đây là phương pháp phù hợp với gây mê ngoài phòng mổ.

Số lần cử động cản trở nội soi ở nhóm 1 (0,6 ± 0,3) thấp hơn nhóm 2 (1,6 ± 0,3), khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Trong nghiên cứu của Tào Ngọc Sơn, số lần cử động cản trở nội soi là 0,85 ± 0,56 [4].

Trong gây mê TM chọc hút noãn, nếu tạo điều kiện thuận lợi cho bác sỹ thực hiện thủ thuật sẽ rút ngắn được thời gian làm thủ thuật, dẫn đến giảm lượng thuốc mê tiêu thụ ở BN và cũng giảm lượng thuốc mê trong noãn, góp phần gia tăng tỷ lệ thụ tinh thành công.

* Điểm PRST giữa 2 nhóm:

Để đánh giá độ mê lâm sàng, chúng tôi sử dụng bảng điểm PRST của Evans [5]. Bảng điểm này căn cứ vào mức độ thay đổi của huyết áp, nhịp tim, vã mồ hôi và chảy nước mắt trong gây mê giúp đưa ra những thông báo về mức độ đầy đủ của gây mê và giảm đau đối với kích thích phẫu thuật, thủ thuật [5]. Trong quá trình phẫu thuật, nếu nồng độ thuốc mê và thuốc giảm đau không đủ để ức chế các phản xạ đau đều có thể làm tăng nhịp tim, tăng huyết áp, vã mồ hôi và chảy nước mắt. Điểm PRST tối thiểu 0 điểm, tối đa 8 điểm, khi PRST ≥ 3 điểm, cần phải xem xét cho thêm thuốc giảm đau hoặc tăng liều thuốc mê.

Bảng 3: Bảng điểm PRST.

Cả hai nhóm BN nghiên cứu đều có điểm PRST dao động từ 0 - 1 tại các thời điểm nghiên cứu. Tuy nhiên, tỷ lệ BN có điểm PRST là 0 điểm tại các thời điểm nghiên cứu tương ứng ở nhóm 1 cao hơn nhóm 2, khác biệt có ý nghĩa thống kê             (p < 0,05). Trái lại, tỷ lệ BN có điểm PRST là 1 điểm tại các thời điểm nghiên cứu tương ứng ở nhóm 1 thấp hơn nhóm 2, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Như vậy, nhóm 1 duy trì độ mê trên lâm sàng tốt hơn nhóm 2.

Bảng 4: Tác dụng không mong muốn.

Tỷ lệ BN đau chỗ tiêm ở nhóm 1 và nhóm 2 tương ứng 10% và 7%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Trong nghiên cứu của Đỗ Thị Na, Tào Ngọc Sơn và Janzen PRM, tỷ lệ đau tại chỗ tiêm tương ứng là 23,53% [3]; 23,1% [4]; 17% [6]. Đau khi tiêm propofol thường do chọc kim luồn ở các TM nhỏ và dự phòng bằng cách thiết lập đường truyền ở TM lớn, tiêm TM lidocain 1 mg/kg hoặc fentanyl trước khi tiêm propofol để khởi mê [2]. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiền mê bằng tiêm TM fentanyl 50 mcg, tỷ lệ đau tại chỗ tiêm của chúng tôi thấp hơn các tác giả trên.

Tỷ lệ BN có SpO2 < 95% và hạ huyết áp ở nhóm 1 đều tương ứng thấp hơn nhóm 2 có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Không gặp trường hợp nào suy hô hấp và suy tuần hoàn. Chúng tôi xử trí SpO2 < 95% và hạ huyết áp bằng cách tăng lưu lượng oxy thở vào, nâng hàm BN, tăng tốc độ dịch truyền, các tác dụng không mong muốn trên đều nhanh chóng mất đi. Đỗ Thị Na gặp tỷ lệ ngừng thở sau khởi mê propofol 22,55%, trong đó 4 BN ngừng thở trên 30 giây phải bóp bóng hỗ trợ, sau đó BN thở lại bình thường [3].

Trong gây mê ngoài phòng mổ, tụt huyết áp và suy hô hấp là hai tác dụng không mong muốn đáng ngại nhất, cần cung cấp oxy đầy đủ và phương tiện cấp cứu cơ bản. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phương pháp gây mê bằng propofol sử dụng bơm tiêm điện và giảm đau fentanyl trên BN khỏe mạnh cho thủ thuật chọc hút noãn đã hạn chế được các tác dụng không mong muốn này so với nhóm duy trì mê ngắt quãng bằng tiêm bolus.

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 80 BN chọc hút noãn tại Trung tâm Mô phôi, Học viện Quân y từ 11 - 2013 đến 4 - 2014 được gây mê TM bằng propofol kết hợp fentanyl, chúng tôi có một số kết luận:

* Hiệu quả vô cảm:

- Cả hai nhóm độ mê trên lâm sàng (PRST) đều từ 0 - 1 điểm. Tỷ lệ BN có điểm PRST là 0 điểm tại các thời điểm nghiên cứu tương ứng ở nhóm 1 cao hơn nhóm 2 (p < 0,05). Tỷ lệ BN có điểm PRST là 1 điểm tại các thời điểm nghiên cứu tương ứng ở nhóm 1 thấp hơn nhóm 2 (p < 0,05).

- Thời gian thoát mê ở nhóm 1 (4,86 ± 1,04 phút) nhanh hơn so với nhóm 2          (6,1 ± 0,75 phút) (p < 0,05).

- Tổng liều propofol ở nhóm 1 (187,28 ± 24,66 mg) thấp hơn so với nhóm 2 (206,32 ± 22,43 mg) (p < 0,05).

* Tác dụng không mong muốn:

- Đau chỗ tiêm gặp ở nhóm 1 là 10% và nhóm 2: 7,5% (p > 0,05).

- SpO2 < 95% ở nhóm 1 (2,5%) thấp hơn nhóm 2 (10%) (p < 0,05).

- Hạ huyết áp ở nhóm 1 (5%) thấp hơn nhóm 2 (17,5%) (p < 0,05).

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hoàng Văn Bách, Nguyễn Quốc Kính, Công Quyết Thắng. Khởi mê TM bằng kỹ thuật propofol - TCI kết hợp theo dõi độ mê bằng entropy. Tạp chí Y học thực hành. 2011, số 744, tr.11-13.

2. Nguyễn Thị Kim Bích Liên. Gây mê toàn thân bằng đường TM. Bài giảng Gây mê hồi sức. Nhà xuất bản Y học. Hà Nội. 2002, tr.605-610.

3. Đỗ Thị Na. Đánh giá tác dụng của thuốc mê propofol trong gây mê TM cho thủ thuật nội soi đại tràng toàn bộ. Luận văn Thạc sỹ           Y học. Đại học Y Hà Nội. 1998.

4. Tào Ngọc Sơn. Đánh giá tác dụng an thần bằng propofol do BN tự điều khiển trong thủ thuật nội soi đại tràng. Luận văn Thạc sỹ Y học. Đại học Y Hà Nội. 2006.

5. Evans J.M., Davies W.L. Monitoring anaesthesia. Clin Anesth. 1984, 2, pp.243-262.

6. Janzen PRM, Hall WJ,Hopkins PM. Setting targets for sedation with a target- controlled propofol infusion. Anaesthesia. 2000, 55, pp.666-669.

 

Trịnh Xuân Trường*; Hoàng Văn Chương**; Nguyễn Ngọc Thạch**

Nguyễn Trung Kiên**; Nguyễn Văn Khoa**

 

Dịch vụ thiết kế website wordpress