TÓM TẮT
Nghiên cứu điều trị đột quỵ nhồi máu não giai đoạn cấp của bài thuốc DQNM-08 kết hợp với y học hiện đại trên 46 bệnh nhân (nhóm nghiên cứu), so sánh với nhóm chứng điều trị bằng y học hiện đại đơn thuần (40 bệnh nhân) tại Khoa Đột quỵ não, Bệnh viện 103. Kết quả: tình trạng huyết áp và ý thức của 2 nhóm thay đổi không có ý nghĩa thống kê; điểm Orgogozo tăng trên 20 điểm ở nhóm nghiên cứu (58,7%) cao hơn so với nhóm chứng (25%) với p<0,01; bệnh nhân ở cả hai nhóm đều có sự dịch chuyển tốt về mức độ liệt chi trên nhưng không có ý nghĩa thống kê, đối với liệt chi dưới số bệnh nhân liệt độ I ở nhóm nghiên cứu (54,3%) tăng hơn so với nhóm chứng (35%) với p < 0,05. Kết quả điều trị cho thấy bài thuốc DQNM-08 có tác dụng tốt trong điều trị đột quỵ nhồi máu não giai đoạn cấp và an toàn khi sử dụng dài ngày.
ABSTRACT
Study on treatment of stroke caused by cerebral infarction in acute period by DQNM-08 prescription combined with modern medicine in 46 patients (research group), compare with control group treated by modern medicine (40 patients) at the Department of Cerebral Stroke of 103 Hospital. Result: condition of blood presure and conscience of two groups changed, but had no statistical significant, observed increase over 20 Orgogozo marks in research group (58,7%) higher than control group (25%) with p <0,01. Upper limbs paralysis in both groups had been improved, but had no statistical significant and patients with I level of lower limbs paralysis in research group (54,3%) higher than control group (35%) with p< 0,05. Result of treatment showed that DQNM-08 prescription had good effect in treatment of stroke caused by cerebral infarction in acute period and safety in use for long time.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đột quỵ não (ĐQN) nói chung và đột quỵ nhồi máu não nói riêng là vấn đề thời sự của xã hội, là một thách thức của y học. ĐQN là nguyên nhân gây tử vong thứ hai sau bệnh ung thư, nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế. Tuổi thọ càng cao, số người mắc bệnh càng nhiều, tỷ lệ để lại di chứng mức độ vừa và nặng khoảng 50%. Chi phí cho cấp cứu, điều trị vừa tốn kém, vừa kéo dài [1, 2, 4].
Y học đã có nhiều tiến bộ trong nghiên cứu nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, xét nghiệm chuyên biệt trong chẩn đoán, hồi sức cấp cứu nội khoa và phẫu thuật nên tỷ lệ mới mắc bệnh và tử vong do ĐQN đã giảm đi đáng kể. Vấn đề phục hồi chức năng cho bệnh nhân (BN) ĐQN nhằm giúp cho người bệnh nhanh chóng trở lại cuộc sống, giảm bớt tàn phế, cho đến nay cũng đã đạt được những thành tựu nhất định [6, 9].
BN đột quỵ nhồi máu não (ĐQNMN) giai đoạn cấp được điều trị bằng y học hiện đại theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới. Duy trì chức năng sống và điều chỉnh các hằng số sinh lý; điều trị đặc hiệu tác động vào các yếu tố bệnh sinh của ĐQN nhằm tái lập dòng chảy và tìm mọi cách bảo vệ tế bào vùng tranh tối tranh sáng khỏi hoại tử bằng thuốc; bằng các kỹ thuật: kỹ thuật giải phóng, làm tiêu cục tắc huyết khối; kỹ thuật nong rộng lòng mạch ở những động mạch (ĐM) bị hẹp…; giải quyết và dự phòng các biến chứng toàn thân; biến chứng thần kinh; tích cực phục hồi chức năng, sớm hòa nhập BN với cộng đồng [5, 10, 12].
Trong y học cổ truyền (YHCT), ĐQNMN không có bệnh danh riêng mà thuộc phạm vi chứng trúng phong. Nguyên nhân của bệnh là chính khí hư tổn khi gặp các điều kiện bất lợi (lao lụy, nội thương, ưu tư, tức giận, ăn uống không điều độ…), âm dương của các tạng phủ mất điều hòa, khí huyết nghịch loạn phạm vào não, dẫn đến huyết mạch bị bế trở hoặc huyết tràn ra ngoài mạch. YHCT chia trúng phong thành nhiều thể bệnh, với mỗi thể lại có các pháp điều trị và phương dược khác nhau. Vì vậy YHCT cũng đã thu được những kết quả nhất định trong giảm tỷ lệ tử vong tăng khả năng phục hồi cho BN [3, 7, 13]. Hiện nay ở nước ta chưa có nhiều nghiên cứu về thuốc YHCT điều trị ĐQNMN giai đoạn cấp. Để làm phong phú thêm lý luận cũng như có thêm một phương thuốc YHCT kết hợp điều trị ĐQNMN giai đoạn cấp, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này nhằm đánh giá tác dụng điều trị ĐQNMN giai đoạn cấp của bài thuốc DQNM-08 về mặt lâm sàng.
2. CHẤT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Chất liệu nghiên cứu
Bài thuốc DQNMN-08 gồm các vị thuốc: thiên ma 12g, câu đằng 15g, thạch
quyết minh 30g, quy vỹ 20g, xuyên khung 10g, đan sâm 30g, đại hoàng 6g, chỉ xác 10g, mạch môn 15g, hoàng kỳ 40g, đởm nam tinh 10g, thủy xương bồ 12g, hồng hoa 10g, đào nhân 10g, mộc hương 10g, xích thược 20g, sinh địa 20g.
Thái nhỏ dược liệu, cho vào máy sắc ở nhiệt độ 1200C, áp suất 1,5 atm. Duy trì sôi trong 3 giờ, lấy dịch chiết đóng túi 120ml. Thuốc được bào chế theo quy trình thống nhất, 1 thang đóng thành 2 túi, được bảo quản trong tủ lạnh 40C [8].
2.2. Đối tượng nghiên cứu
86 BN được chẩn đoán xác định ĐQNMN giai đoạn cấp theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới, ý thức ≥ 6 điểm Glasgow. Các BN điều trị nội trú tại khoa Đột quỵ não Bệnh viện 103 từ tháng 12/2008 đến tháng 6/2009.
Không đưa vào diện nghiên cứu các trường hợp: ĐQNMN dưới lều, có bệnh tim mạch, suy gan, suy thận, suy hô hấp không hồi phục.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Tiến cứu, ngẫu nhiên, so sánh trước và sau điều trị.
Các BN được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm:
- Nhóm 1 (nhóm nghiên cứu): 46 BN được điều trị theo phác đồ y học hiện đại như BN nhóm 2 và kết hợp dùng bài thuốc DQNMN-08 bằng đường uống (nếu BN hôn mê thì bơm thuốc qua sonde dạ dày), mỗi ngày uống 2 túi (chia làm 2 lần cách nhau 12 giờ), thời gian điều trị 15 ngày.
- Nhóm 2 (đối chứng): 40 BN được điều trị bằng các biện pháp y học hiện đại theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, thời gian điều trị 15 ngày.
2.3.2. Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu
- Đánh giá rối loạn ý thức theo thang điểm Glasgow.
- Xác định tình trạng lâm sàng theo thang điểm Orgogozo (1986).
- Xác định độ liệt theo thang điểm của Henry (1984).
- Đánh giá các tác dụng không mong muốn của thuốc trên lâm sàng.
2.3.3. Xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý theo chương trình SPSS for Windows 13.0.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thay đổi huyết áp (HA) sau điều trị

3.2.Thay đổi ý thức theo thang điểm Glasgow

3.3.Thay đổi tình trạng lâm sàng theo thang điểm Orgogozo

3.4.Thay đổi độ liệt theo thang điểm Henry

3.5.Kết quả điều trị về đại tiện

3.6.Tác dụng không mong muốn ở BN nhóm nghiên cứu
Chỉ có 2 BN (4,4%) sau uống thuốc 1 ngày xuất hiện đại tiện phân nát (3 lần/ ngày). Không gặp các tác dụng không mong muốn khác.
4. BÀN LUẬN
4.1. Kết quả điều trị đối với HA
BN có HA trở về giới hạn bình thường ở nhóm 1 cao hơn nhóm 2 (từ 28,3% tăng lên 43,4% so với từ 30% tăng lên 40%), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Kết quả này giống như kết quả của Bùi Xuân Tuyết [8], đó là thuốc nghiên cứu làm thay đổi HA sau điều trị không có ý nghĩa thống kê. Theo chúng tôi nhóm 1 dùng kết hợp thuốc YHCT, HA có xu hướng giảm có lẽ do trong bài thuốc DQNM-08 có nhiều vị có tác dụng giãn mạch, hạ HA như câu đằng, thiên ma, xuyên khung, đan sâm, hồng hoa.
Xét trên lý luận YHCT, BN nhóm 1 chủ yếu là thể can dương thượng cang, âm hư phong động, huyết ứ trở lạc, đàm trọc trung trở. Để giải quyết các vấn đề này bài thuốc DQNM-08 đều đáp ứng được, đó là hoạt huyết hóa ứ, bình can tiềm dương, hóa đàm. Tuy nhiên nhóm 1 không giảm được các cơn tăng HA kịch phát, nhất là BN có tiền sử tăng HA độ III. Với các BN này cần theo dõi sát HA trong và sau điều trị đề phòng ĐQN tái phát. Để đánh giá một cách chính xác, tỷ mỷ nhất biến đổi HA của BN ĐQNMN khi dùng thuốc DQNM-08 nên theo dõi bằng Holter HA.
4.2. Kết quả điều trị đối với rối loạn ý thức
Sau điều trị, số BN có ý thức bình thường ở cả 2 nhóm đều tăng (nhóm 1 tăng từ 76,1% lên 95,7%; nhóm 2 tăng từ 82,5% lên 95%), sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Hiện (dùng thuốc Luotai) [7] và Nguyễn Chí Tuệ (thuốc Natospes) [12] cũng đều thấy sự thay đổi về rối loạn ý thức không có ý nghĩa thống kê. Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm BN dùng thuốc DQNM-08 không trường hợp nào có điểm Glasgow nặng lên sau điều trị, trong khi đó nhóm 2 có 1 BN (2,5%) rối loạn ý thức nặng lên. Có được kết quả trên có thể do trong bài thuốc DQNM-08 chỉ có 1 vị khai khiếu tỉnh thần (thủy xương bồ) nên tác dụng tỉnh thần chưa cao, dù đã sử dụng rất nhiều vị thuốc hoạt huyết tăng cường dinh dưỡng não. Theo chúng tôi, có lẽ thuốc dùng qua đường uống nên tác dụng chậm. Để đánh giá một cách chính xác hơn nên theo dõi chi tiết hơn thời gian hồi phục ở 2 nhóm. Hiệu quả về cải thiện ý thức sẽ tăng cao hơn khi gia thêm một số vị khai khiếu tỉnh thần khác như long não, băng phiến hoặc nghiên cứu kết hợp dùng ngoài bài Thông quan tán.
4.3. Kết quả điều trị về tình trạng lâm sàng
Cả 2 nhóm đều có sự cải thiện về điểm Orgogozo nhưng nhóm 1 có sự cải thiện tốt hơn nhóm 2 (nhóm 1 có 58,7% đỡ nhiều trong khi nhóm 2 có 25%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01; mặt khác nhóm 1 có số BN nặng lên ít hơn nhóm 2. So với kết quả của Phạm Thị Thanh Hòa với điểm Orgogozo>60 sau điều trị tăng thêm 27% [8] tương đương kết quả của chúng tôi (tăng thêm 25%); so với kết quả của Nguyễn Chí Tuệ thì hiệu quả cải thiện điểm Orgogozo mức độ tốt của chúng tôi cao hơn hẳn (58,7% so với 13,5%).
Điểm Orgogozo bao gồm cả tình trạng ý thức, tình trạng vận động của cả chi trên và chi dưới, tình trạng ngôn ngữ, tình trạng dây VII. Nên khi xét từng triệu chứng sự khác biệt không rõ, nhưng khi xét tổng thể các mặt ý thức, vận động và ngôn ngữ thì sự cải thiện lại có ý nghĩa thống kê.
4.4. Kết quả điều trị về độ liệt
Sau điều trị cả 2 nhóm đều có sự chuyển dịch tốt về độ liệt chi trên, nhất là liệt độ I của nhóm 1 (37%) so với nhóm 2 (32,5%), tuy nhiên sự dịch chuyển độ liệt này chưa có ý nghĩa thống kê với p>0,05. So với kết quả của Phạm Thị Thanh Hòa, BN liệt độ I sau điều trị tăng 14%, tương đương với kết quả của chúng tôi (16%).
Sau điều trị cả 2 nhóm cũng đều có sự chuyển dịch tốt về độ liệt chi dưới, nhưng nhóm 1 có số BN liệt độ I tăng hơn nhóm 2( 54,3% so với 35%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Có được kết quả này có thể là do các vị thuốc trong bài thuốc có tác dụng tăng cường đưa máu lên não và tăng dẫn truyền thần kinh, tăng cường năng lượng cho tế bào, chống phù não ở BN NMN.
4.5. Kết quả điều trị về rối loạn cơ vòng
Tỷ lệ BN phải thụt tháo ở nhóm 1 ít hơn so với nhóm 2 (9,1% so với 40%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Thời gian đại tiện trung bình sau khi uống thuốc ở nhóm 1 (2,8 ± 1,4 ngày) khác biệt so với nhóm 2 (4,80 ± 1,96 ngày) có ý nghĩa thống kê với p<0,001.
Theo chúng tôi, kết quả này là do vai trò của đại hoàng với tác dụng kéo nước vào trong đại tràng gây kích thích phản xạ đại tiện. Hỗ trợ cho tác dụng này còn có các vị bổ âm (mạch môn), dưỡng huyết (quy vĩ), nhuận tràng (đào nhân), điều hòa hoạt động của cơ vòng (chỉ xác, quy vĩ, mộc hương). Các vị thuốc trên có tác động vào cơ quan nhận cảm ở bàng quang hoặc trực tràng. Ngoài ra các vị hoạt huyết hóa ứ như đương qui, xích thược, xuyên khung, đào nhân, hồng hoa, đan sâm vừa có tác dụng cải thiện lưu thông các mạch máu não, vừa có tác dụng hạn chế sự kết tập của tiểu cầu, một mắt xích quan trọng trong cơ chế NMN. Khi tế bào não được cải thiện về dinh dưỡng sẽ sớm phục hồi chức năng; trong đó có chức năng đại tiện.
4.6. Về tác dụng không mong muốn của bài thuốc DQNM-08
Điều trị bằng thuốc DQNM-08, không BN nào có biểu hiện nổi ban dị ứng, chỉ có 2 BN sau uống thuốc 1 ngày xuất hiện đại tiện phân nát nhưng không có nhầy máu, BN không bị đầy bụng hoặc trướng bụng. Với các trường hợp này, chỉ thay đổi cách uống, mỗi túi uống làm 2 - 3 lần, hâm nóng thuốc bằng cách thủy (không thay đổi liều thuốc) là đại tiện trở lại bình thường. Như vậy bài thuốc DQNM-08 là an toàn khi sử dụng dài ngày.
5. KẾT LUẬN
Bài thuốc DQNM-08 có tác dụng tốt trong điều trị ĐQNMN giai đoạn cấp, thể hiện:
- Sau điều trị, tình trạng HA và ý thức giữa 2 nhóm thay đổi không có ý nghĩa thống kê.
- Điểm Orgogozo ở Bn nhóm 1 tăng trên 20 điểm (58,7%) cao hơn so với nhóm 2 (25%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01).
- Cả 2 nhóm đều có sự chuyển dịch tốt về mức đột liệt chi trên nhưng sự thay đổi không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Đối với tình trạng liệt chi dưới, nhóm 1 có số BN liệt độ I tăng hơn nhóm 2 (54,3% so với 35%) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
- Thời gian đại tiện trung bình sau uống thuốc ở nhóm 1 là 2,8 ± 1,4 ngày so với nhóm 2 là 4,80 ± 1,96 ngày, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,001. BN nhóm 1 phải thụt tháo (9,1%) ít hơn so với nhóm 2 (40%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,001.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Nguyễn Chương: Một số ý kiến về nghiên cứu tai biến mạch máu não. Trong: Tai biến mạch máu não, hướng dẫn chẩn đoán và xử trí - Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2008, 655 – 660.
2) Nguyễn Văn Chương: Thực hành lâm sàng thần kinh học - Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2005.
3) Vương Thị Kim Chi, Huỳnh Văn Minh: Kỷ yếu báo cáo tóm tắt khoa học hội nghị tim mạch toàn quốc lần thứ XI, 2006, 216.
4) Nguyễn Thế Duy: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cắt lớp vi tính của nhồi máu não và u não giảm đậm ở bán cầu đại não - Luận án tiến sĩ y học, Học viện Quân y, 2002, 50 - 80.
5) Nguyễn Văn Đăng: Tai biến mạch máu não - Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 1997, 113 - 128.
6) Nguyễn Văn Đăng: Đại cương về tai biến mạch máu não, những kiến thức cơ bản trong thực hành. Trong: Tai biến mạch máu não, hướng dẫn chẩn đoán và xử trí - Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2008, 19 - 28.
7) Nguyễn Minh Hiện và CS: Nghiên cứu tác dụng của thuốc Luotai trên lâm sàng và một số yếu tố cầm máu ở BN nhồi máu não - Tạp chí Y dược học quân sự, 5/2009, 92 - 101.
8) Phạm Thị Thanh Hòa: Nghiên cứu tác dụng của Luotai trên BN nhồi máu não trong giai đoạn cấp - Luận văn thạc sĩ y học, Học viện Quân y, 2005.
9) Nguyễn Oanh Oanh: Nghiên cứu rối loạn lipid máu và biến chứng ở người tăng HA nguyên phát - Tạp chí Y dược học quân sự, 5/2009, 76 – 80.
10) Hoàng Đức Thọ: Đái tháo đường và tai biến mạch máu não. Trong: Tai biến mạch máu não, hướng dẫn chẩn đoán và xử trí - Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2008, 371 - 383.
11) Bùi Xuân Tuyết: Nghiên cứu tác dụng của bài thuốc tuần hoàn não trong điều trị nhồi máu não sau giai đoạn cấp tính - Luận án tiến sĩ y học, Học viện Quân y, 2007, 57 - 80.
12) Nguyễn Trí Tuệ: Nghiên cứu tác dụng điều trị của chế phẩm Natrospes trên BN đột quỵ thiếu máu não trong giai đoạn cấp - Luận văn thạc sĩ y học, Học viện Quân y, 2008
13) Đặng Quốc Tuấn: Xuất huyết não màng não. Trong: Cẩm nang cấp cứu - Nhà xuất bản Y học, Hà nội, 2006, 269 -272.
14) Michael J et al: New treatments in acute ischemic stroke -Current treatment options in neurolorgy, vol. 9, Novemeber 2005, 73 -85.
TS. TRẦN QUỐC BẢO, BSCKII. TRỊNH TRỌNG ĐẠT
Bệnh viện Quân Y103
Phản biện khoa học: PGS. TS. NGUYỄN VĂN HỒNG









