Trang chủ Thông tin y khoa Thông tin y khoa Đánh giá hiệu quả giải độc không đặc hiệu ở những người phơi nhiễm chất da cam/Dioxin tại Bệnh viện Quân y 103

Đánh giá hiệu quả giải độc không đặc hiệu ở những người phơi nhiễm chất da cam/Dioxin tại Bệnh viện Quân y 103

T6, 09/10/2020

TÓM TẮT

Mục tiêu: đánh giá hiệu quả của việc giải độc không đặc hiệu dựa trên nguyên lý Hubbard để loại bỏ chất độc trong cơ thể nạn nhân chất độc da cam/dioxin. Đối tượng và phương pháp: chọn 34 người sống xung quanh sân bay Đà Nẵng - vùng tồn lưu chất da cam/dioxin (23 nam, 11 nữ) có 2,3,7,8-TCDD (2,3,7,8-tetra chloro dibenzo p dioxin) trong máu dựa vào nhiều nghiên cứu trước. Lấy máu toàn phần, phân tích nồng độ dioxin và các chất đồng loại trước và sau tiến hành giải độc không đặc hiệu theo nguyên lý Hubbard. Việc phân tích dioxin được thực hiện tại Trung tâm Phân tích Eurofins (CHLB Đức) bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ độ phân giải cao (GC/HR-MS). Kết quả: nồng độ dioxin trung bình trong máu của nhóm phơi nhiễm là 50,47 ± 130,74 pg/g lipid; sau điều trị giảm xuống còn 39,29 ± 99,93 pg/g; khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Nồng độ 2,3,7,8-TCDD và tổng đương lượng độc (TEQ) có xu hướng giảm rõ rệt sau điều trị. Kết luận: giải độc không đặc hiệu dựa trên nguyên lý Hubbard có thể đào thải được dioxin ra khỏi cơ thể người bị phơi nhiễm.

* Từ khóa: Chất da cam/dioxin; Giải độc không đặc hiệu.

Estimate the Result of Non-specific Detoxification in People Exposed to Orange/Dioxin Agent in 103 Hospital

Summary

Objective: Estimate the result of non-specific detoxification in the people exposed to orange/dioxin agent. Subject and method: Select 34 peoples (23 men, 11 women), who live around the area that contaminated by orange/dioxin agent in Danang and have 2,3,7,8-TCDD in blood in the previous studies. Before and after applying non-specific treatment follow the Hubbard’s principle, take full blood sample, analyse dioxin by gas chromatography high resolusion mass spectrometry in Eurofins Analysing Center. Result: Before the treament, mean dioxin level in blood of the exposed group was 50.47 ± 130.74 pg/g lipid; after the treatment, it decreases to 39.29 ± 99.93 pg/g; the difference is significant (p < 0.05). 2,3,7,8-TCDD concentrations and TEQs trend reducing quite clearly. Conclusion: applying non-specific treatment follow the Hubbard detoxification method can eliminate dioxin out of the body of the exposed people.

* Key words: Orange/dioxin agent; Non-specific detoxification.


ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ năm 1961 - 1971, quân đội Mỹ đã phun rải khoảng 80 triệu lít chất diệt cỏ ở miền Nam Việt Nam (trong đó có 48,6 lít chất da cam - một hỗn hợp 50/50 các axít 2,4-diclorophenoxyacetic và 2,4,5-tricloro phenoxyaxetic, có tạp chất dioxin với tỷ lệ TCDD rất cao).

Hiện chưa có biện pháp điều trị đặc hiệu cho người nhiễm chất da cam/dioxin mà chủ yếu tập trung hạn chế và khắc phục những tổn thương của cơ thể do chất độc gây ra: chống suy mòn, tăng cường khả năng miễn dịch, chống oxy hóa, bảo vệ gan, dùng các enzym tự nhiên (naturenz), đa peptid, liệu pháp vitamin và vật lý trị liệu [2]. Những biện pháp này đều là điều trị không đặc hiệu, cải thiện thể trạng chung của nạn nhân, chưa có nghiên cứu nào gắn điều trị giải độc với phân tích dioxin trước, trong và sau điều trị.

Giải độc không đặc hiệu dựa trên nguyên lý do L Ron Hubbard xây dựng và phát triển được thiết kế nhằm huy động và đẩy mạnh quá trình thải các xenobiotic tồn lưu trong tổ chức mỡ, làm giảm lượng cặn của độc chất tích tụ trong cơ thể. Thực tế cho thấy, phương pháp này còn có khả năng đào thải các hợp chất khác lưu trong mỡ, được ứng dụng ở nhiều nơi trên thế giới và có hiệu quả tốt. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm: Đánh giá hiệu quả của việc giải độc không đặc hiệu dựa trên nguyên lý Hubbard để loại bỏ chất độc trong cơ thể nạn nhân chất độc da cam/dioxin.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Thu dung điều trị giải độc không đặc hiệu theo nguyên lý Hubbard cho 34 người sống quanh sân bay Đà Nẵng          (23 nam, 11 nữ). Thời gian từ tháng 9 đến 11 - 2012, tại Bệnh viện Quân y 103.

- Phương pháp giải độc không đặc hiệu được thiết kế gồm các yếu tố sau:

+ Thể dục: dưới hình thức chạy bộ để tăng cường tuần hoàn máu, nhất là tuần hoàn ngoại vi.

+ Ngồi phòng tắm hơi: đồng thời uống các loại vitamin và chất dinh dưỡng khác theo một quy trình nhất định, đặc biệt là dầu oliu và vitamin PP.

+ Dinh dưỡng: chế độ ăn thông thường có bổ sung nhiều loại rau tươi. Một chế độ chặt chẽ gồm: uống vitamin, khoáng chất và dầu, uống đủ nước để bù lại lượng nước cơ thể mất đi do toát mồ hôi.

Một lịch trình riêng yêu cầu tuân thủ đúng, người tham gia ngủ đủ số giờ cần thiết. Thời gian của một liệu trình giải độc tố từ 2 - 3 tuần, tùy theo “trạng thái kết thúc” (theo yêu cầu của chương trình giải độc) của mỗi cá nhân đến sớm hay muộn.

Tập thể dục trong chương trình giải độc tố có ý nghĩa quan trọng, giúp tăng cường tuần hoàn nhằm huy động và đẩy các độc chất tồn lưu trong cơ thể vào hệ thống tuần hoàn. Nếu không tập thể dục, hiệu quả khử độc tố sẽ hạn chế. Dầu oliu, các vitamin giúp hòa loãng và huy động dioxin từ các tổ chức, đặc biệt là mỡ vào hệ thống tuần hoàn và thải ra ngoài. Vitamin PP (niacin) có tác dụng làm tăng đào thải cholesterol nên những sản phẩm có thể tan trong mỡ như dioxin có thể được đào thải qua đường mật, theo phân ra ngoài [7].

- Lấy 40 ml máu toàn phần trước và sau giải độc, gửi phân tích dioxin bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ độ phân giải cao (Gas Chromatography-High Resolusion Mass Spectrometry - GC/HR-MS) tại Trung tâm Phân tích Eurofins (CHLB Đức).

- Xét nghiệm huyết học và sinh hóa thực hiện tại Bệnh viện Quân y 103.

- Tính toán số liệu bằng phần mềm thống kê y học (Wilcoxon - signed rank test và t-test student - SPSS16).


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Bảng 1: Phân bố tuổi, giới.


Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 44,5 ± 13,04. Lứa tuổi 41 - 60 chiếm tỷ lệ cao nhất (50%), lứa tuổi 61 - 80 chiếm tỷ lệ ít nhất (11,8%).

- Tuổi trung bình và phân bố tuổi theo giới không có sự khác biệt (p > 0,05).

- Lứa tuổi được sinh ra sau chiến tranh ở miền Nam (nhóm tuổi 20 - 40) vẫn còn nhiều người nhiễm dioxin. Do thời gian bán hủy của dioxin từ 7 - 11 năm, nên chỉ có phơi nhiễm ở nơi tồn lưu chất da cam/dioxin mới có thể lý giải vì sao những người trong nhóm nghiên cứu vẫn còn dioxin trong cơ thể [1, 4, 5, 6]. Theo Nguyễn Hoàng Thanh (2010), khi xét nghiệm 2,3,7,8-TCDD cho 26 cựu chiến binh tham gia chiến đấu ở miền Nam, trước đây đều là nạn nhân chất da cam/dioxin, hiện không sống trong vùng tồn lưu, không phát hiện trường hợp nào còn 2,3,7,8-TCDD trong máu [1]. Điều này phù hợp với nhận định của nhiều tác giả là 2,3,7,8-TCDD ở Việt Nam chỉ có nguồn gốc do Mỹ phun rải trong chiến tranh.

Bảng 2: Kết quả hóa sinh máu trước và sau điều trị.

So sánh trước và sau điều trị giải độc không đặc hiệu theo nguyên lý Hubbard trong cùng nhóm, chỉ có cholesterol giảm (p < 0,05). Các chỉ số hóa sinh khác không thay đổi. Điều này là do tác dụng của niacin (tên gọi khác của vitamin B3 hay vitamin PP). Niacin có vai trò rất quan trọng, tham gia vào > 200 phản ứng của cơ thể để vừa phóng thích năng lượng, vừa cung cấp chất kiến tạo tế bào. Nó tạo thành 2 coenzym là nicotinamid adenin dinucleotid (NAD) và nicotinamid adenin dinucleotid phosphat (NADP), cùng với biotin (vitamin H) tham gia vào quá trình phân giải thức ăn thành các hoạt chất hữu ích cho cơ thể, hạ thấp cholesterol xấu (LDL), tăng lượng cholesterol tốt (HDL).

Bảng 3: Thay đổi các chỉ tiêu huyết học trước và sau điều trị.

Các chỉ tiêu huyết học của nhóm nghiên cứu trước và sau giải độc không đặc hiệu đều không khác biệt (p > 0,05). Khi áp dụng giải độc không đặc hiệu theo nguyên lý Hubbard không làm thay đổi và tổn thương các tế bào máu.

Bảng 4: Thay đổi nồng độ các dioxin trước và sau điều trị.

Trước khi giải độc không đặc hiệu theo nguyên lý Hubbard, nồng độ 2,3,7,8-TCDD (pg/g lipid) trung bình trong máu của nhóm phơi nhiễm là 50,47 ± 130,74; sau điều trị giảm xuống còn 39,29 ± 99,93; khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Một số đồng phân khác như: 1,2,3,4,6,7,8-Hepta CDD; Octa CDD có thay đổi sau điều trị, nhưng không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 5: Thay đổi nồng độ các CDF và TEQ trước và sau điều trị.

Nồng độ trung bình 2,3,7,8-Tetra CDF và các đồng phân như: 2,3,4,7,8-Penta CDF; 1,2,3,4,7,8-Hexa CDF; Octa CDF trong máu của nhóm phơi nhiễm giảm có ý nghĩa thống kê sau điều trị (p < 0,05).

Thông qua thay đổi chỉ số TEQ của nhóm nghiên cứu, thấy: đương lượng độc dioxin sau điều trị thay đổi theo xu hướng giảm.


KẾT LUẬN

Trước khi giải độc không đặc hiệu theo theo nguyên lý Hubbard, nồng độ dioxin trung bình trong máu của nhóm phơi nhiễm là 50,47 ± 130,74 pg/g lipid; sau điều trị giảm xuống còn 39,29 ± 99,93; khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Đương lượng độc (TEQ) sau điều trị cũng giảm có ý nghĩa thống kê. Nồng độ một số đồng phân khác thay đổi không có ý nghĩa thống kê.

Sau giải độc, chỉ có cholesterol thay đổi giảm xuống (p < 0,05), các chỉ số hoá sinh khác không thay đổi. Các chỉ tiêu huyết học của nhóm nghiên cứu trước và sau giải độc không khác biệt (p > 0,05).

Bước đầu nhận thấy, giải độc không đặc hiệu dựa trên nguyên lý Hubbard có thể đào thải được dioxin ra khỏi cơ thể người bị phơi nhiễm.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Hoàng Thanh. Dự án thu dung, chẩn đoán và điều trị nạn nhân chất độc hóa học/dioxin. Học viện Quân y. 2010.

2. Anh NT, Nishijo M, Tai PT, Maruzeni S, Morikawa Y, Anh TH, Van Luong H, Dam PM, Nakagawa H, Son Le K, Nishijo H. Maternal risk factors associated with increased dioxin  concentrations in breast milk in a hot spot of dioxin contamination in Vietnam. J Expo  Sci Environ Epidemiol. 2014, Sep, 24 (5), pp.489-496. doi: 10.1038/jes.2013.73. Epub 2013, Oct 23. PMID:24149970.

3. Durant JT, Boivin TG, Pohl HR, Sinks TH. Public health assessment of dioxin-contaminated fish at former US airbase, Bienhoa, Vietnam. Int J Environ Health Res. 2014, Aug 4, pp.1-11. PMID: 25087452.

4. Hue NT, Nam VD, Thuong NV, Huyen NT, Phuong NT, Hung NX, Tuan NH, Son LK, Minh NH. Determination of PCDD/Fs in breast milk of women living in the vicinities of Danang Agent Orange hot spot (Vietnam) and estimation of the infant's daily intake. Sci Total Environ. 2014, Sep 1, pp.491-492, 212-218. doi: 10.1016/ j.scitotenv.2014.02.054. Epub 2014, Mar 6.

5. Manh HD, Kido T, Okamoto R, Xianliang S, Anh Le T, Supratman S, Maruzeni S, Nishijo M, Nakagawa H, Honma S, Nakano T, Takasuga T, Nhu DD, Hung NN, Son Le K. Serum dioxin levels in Vietnamese men more than 40 years after herbicide spraying. Environ Sci Technol. 2014, Mar 18, 48 (6), pp.3496-3503. doi: 10.1021/es404853h. Epub 2014, Mar 4. PubMed PMID: 24552243.

6. Ron Hubbard. Cơ thể trong sạch, tâm trí minh mẫn. Nhà xuất bản Bridge Publication, Inc. 2010. (sách dịch).

7. Tran TH, Nguyen NB, Le VA. New strategy toward dioxin risk reduction for local residents surrounding severe dioxin hotspots in Vietnam. Glob Health Action. 2013, Jun 20, 6, pp.211-305. doi: 10.3402/gha.v6i0.21105. PubMed PMID: 23791241; PubMed Central PMCID: PMC3689901.

 

Nguyễn Hoàng Thanh*; Hoàng Mạnh An*; Đỗ Quyết**

Nguyễn Bá Vượng*; Lương Minh Tuấn***

 

Dịch vụ thiết kế website wordpress