Bệnh nhân Trần Thị H 60 tuổi, nhập viện khoa Nội tim mạch, Bệnh viện quân y 103 với triệu chứng mệt mỏi, khó thở, hồi hộp trống ngực, điện tâm đồ có hình ảnh cơn nhanh thất bền bỉ, siêu âm tim: buồng tim không giãn, chức năng tâm thu thất trái trong giới hạn bình thường, khảo sát động mạch vành chưa phát hiện bất thường. Bệnh nhân đã được điều trị nội khoa tối ưu với các thuốc điều trị rối loạn nhịp như Lidocain, chẹn bêta giao cảm, Amiodarone, tuy nhiên tác dụng của các thuốc lên rối loạn nhịp khá hạn chế, bệnh nhân trong ngày vẫn còn nhiều cơn nhịp nhanh thất, kèm theo các triệu chứng lâm sàng không có sự thay đổi.
Bệnh nhân đã tiến hành hội chẩn khoa và quyết định tiến hành điều trị rối loạn nhịp nhanh thất bằng năng lượng sóng có tần số Radio kết hợp hệ thống lập bản đồ ba chiều (3D) trong buồng tim. Kíp kĩ thuật bao gồm TS Nguyễn Duy Toàn, ThS Nguyễn Văn Luyến, ThS Nguyễn Hữu Hồng Chương, ThS Nguyễn Văn Tuấn đã tiến hành lập bản đồ điện học 3D trong buồng tim bệnh nhân, xác định vị trí xuất phát ổ rối loạn nhịp nằm ở vùng đường ra thất phải, tiến hành triệt đốt ở rối loạn nhịp bằng năng lượng sóng có tần số radio, tuy quá trình triệt đốt gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên bằng sự cố gắng và quyết tâm của các bác sĩ trong kíp kĩ thuật, nhịp nhanh thất của bệnh nhân đã được điều trị thành công. Theo dõi sau đốt trong quá trình nằm viện, bệnh nhân không còn cơn nhanh thất.




Rối loạn nhịp tim là sự rối loạn hoạt động điện học của tim. Về phân loại rối loạn nhịp tim bao gồm rối loạn nhịp nhanh (cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất, nhanh nhĩ, rung nhĩ, nhanh thất, rung thất, xoắn đỉnh…), và rối loạn nhịp chậm (nhịp chậm xoang, suy chức năng nút xoang, Block nhĩ thất). Về vị trí khởi phát rối loạn nhip chia làm rối loạn nhịp thất và rối loạn nhịp trên thất.
Trong các rối loạn nhịp thường gặp, nhịp nhanh thất là một trong những rối loạn nhịp nguy hiểm, nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời sẽ để lại những hậu quả nặng nề và nguy hại đến tính mạng của bệnh nhân. Về định nghĩa, cơn nhịp nhanh thất là cơn tim nhanh khi có ít nhất ba ngoại tâm thu thất đi liền nhau với nhau với tần số trên 100 chu kỳ/phút. Về phân loại bao gồm: 1) Nhịp nhanh thất thoáng qua (thời gian cơn nhanh thất < 30 giây); 2) Nhịp nhanh thất bền bỉ (thời gian cơn nhanh thất > 30 giây). Có nhiều nguyên nhân gây ra cơn nhịp nhanh thất bao gồm: Nhồi máu cơ tim cấp, bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính, bệnh cơm tim, suy tim, bệnh van tim…. Theo một số nghiên cứu, tần suất mắc nhanh thất ở bệnh nhân không có bệnh tim mạch là 3% ở nam và 2% ở nữ. Bệnh biểu hiện với triệu chứng lâm sàng đa dạng, có thể là các cơn hồi hộp trống ngực, nặng hơn có thể ngất hoặc đột tử.
Áp dụng kỹ thuật thăm dò điện sinh lý và điều trị rối loạn nhịp bằng năng lượng sóng có tần số radio kết hợp hệ thống lập bản đồ điện học ba chiều trong buồng tim đã được khoa Nội tim mạch, Bệnh viện quân y 103 triển khai nhiều năm nay. Hiện nay chúng tôi đã triệt đốt được các rối loạn nhịp tim phức tạp bao gồm cả các rối loạn nhịp trên thất (Rung nhĩ, nhanh nhĩ, cuồng nhĩ…) và các rối loạn nhịp thất (ngoại tâm thu thất, nhanh thất…).
Tài liệu tham khảo
- 1. Katja Zeppenfeld, Jacob Tfelt-Hansen, et al, “2022 ESC Guidelines for the management of patients with ventricular arrhythmias and the prevention of sudden cardiac death: Developed by task force for the management of patients with ventricular arrhythmias and the prevention of sudden cardiac death of the European Society of Cardiology (ESC) Endorsed by the Association for European Paediatric and Congenital Cardiology (AEPC), European Heart Journal, Volume 43, Issue 40, 21 October 2022, Pages 3997-4126.
- 2. Naiara Calvo, MD, Monique Jongbloed, MD, PhD and Katja Zeppenfeld, MD, PhD, “Radiofrequency Catheter Ablation of Idiopathic Right Ventricular Outflow Tract Arrhythmias”, Indian Pacing Electrophysiol J. 2013 Jan-Feb; 13(1):14-33.
- 3. Wilbert S Aronow, Chul Ahn, Anthony D Mercando, Stanley Epstein, Itzhak Kronzon, “Prevalance and association of ventricular tachycardia and complex ventricular arrhythmias with new coronary events in older men and women with and without cardiovascular disease”, J Gerontol A Biol Sci Med Sci, 2002 Mar; 57(3):M178-80.
ThS. Nguyễn Văn Tuấn – Khoa Nội Tim mạch











