Trang chủ Thông tin y khoa Thông tin y khoa Bước đầu nghiên cứu nồng độ Popamin huyết tương ở bệnh nhân Parkinson

Bước đầu nghiên cứu nồng độ Popamin huyết tương ở bệnh nhân Parkinson

T6, 09/10/2020

TÓM TẮT

Mục tiêu: nhận xét nồng độ dopamin huyết tương ở bệnh nhân (BN) Parkinson và mối liên quan với lâm sàng. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang trên 30 BN được chẩn đoán xác định bị bệnh Parkinson và 30 người khỏe mạnh tương đồng về tuổi, giới. Xét nghiệm định lượng nồng độ dopamin huyết tương cho cả nhóm bệnh và nhóm chứng. Kết quả: nồng độ dopamin huyết tương trung bình nhóm BN Parkinson (0 pg/ml và 4,51 ± 2,93 pg/ml) ít hơn nhóm chứng (9,68 ± 4,18 pg/ml). Giữa nồng độ dopamin huyết tương với mức độ bệnh và giai đoạn bệnh có mối tương quan nghịch mức độ vừa với hệ số tương quan lần lượt là -0,462 và -0,397. Kết luận: nồng độ dopamin huyết tương giảm ở BN Parkinson.

* Từ khóa: Bệnh Parkinson; Nồng độ dopamin.

Initial Study of Plasma Concentration of Dopamine at Patients with Parkinson’s Disease

Summary

Objectives: To review the plasma concentration of dopamin in patients with Parkinson’s disease and its relationship with clinical features. Subjects and methods: A prospective, cross-sectional study on 30 patients diagnosed with Parkinson’s disease and 30 healthy people with the corresponding age, sex. Quantitative assay of plasma dopamine concentration for patients group and control group was done. Results: Plasma dopamine average concentration in the group with Parkinson's disease (0 pg/ml and 4.51 ± 2.93 pg/ml) was less than the control group (9.68 ± 4.18 pg/ml). There was a moderately inverse correlation between plasma dopamine concentration and extent of disease and disease stages with correlated coefficients -0,462 and  -0,397. Conclusion: Plasma concentration of dopamine reduced in patients with Parkinson’s disease.

* Key words: Parkinson's disease; Dopamine concentration.


ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh Parkinson là bệnh thường gặp trong nhóm bệnh do thoái hóa mạn tính tiến triển của hệ ngoại tháp. Theo nhiều nghiên cứu, bệnh sinh của bệnh Parkinson là do sụt giảm nồng độ dopamin ở hệ tiết dopamin của não, việc điều trị BN bằng các thuốc theo cơ chế trên đem lại hiệu quả tốt để cải thiện các triệu chứng của bệnh. Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào đề cập đến việc định lượng và đánh giá thay đổi nồng độ dopamin huyết tương ở BN Parkinson. Từ đó, nghiên cứu của chúng tôi nhằm: Nhận xét nồng độ dopamin huyết tương  ở BN Parkinson và mối liên quan với lâm sàng.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu.

60 BN, chia làm 2 nhóm: nhóm bệnh (30 BN bị bệnh Parkinson, được khám và điều trị tại Khoa Nội Thần kinh, Bệnh viện Quân y 103 từ 10 - 2013 đến 07 - 2014), nhóm chứng 30 người khỏe mạnh tương đồng về tuổi, giới với nhóm bệnh.

* Tiêu chuẩn lựa chọn BN:

- Nhóm bệnh:

+ Chẩn đoán bệnh Parkinson theo tiêu chuẩn của Hội Ngân hàng Não và Parkinson Vương quốc Anh [3].

+ BN chưa được điều trị.

- Nhóm chứng: là những người đi khám sức khỏe, đảm bảo các tiêu chuẩn sau:

+ Tuổi, giới tương đồng nhóm bệnh.

+ Xác định sức khỏe tốt dựa vào tiền sử và khám lâm sàng, cận lâm sàng.

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- Rối loạn chức năng tuyến giáp.

- Tiền sử nghiện ma túy, nghiện rượu, nghiện cà phê.

- BN mù chữ hoặc rối loạn chức năng ngôn ngữ như đọc, nghe.

- BN mắc các bệnh ảnh hưởng đến nồng độ dopamin huyết tương: hội chứng chân bất an, các bệnh lý thần kinh ngoại vi…

2. Phương pháp nghiên cứu.

Tiến cứu, mô tả cắt ngang có đối chứng.

- Lựa chọn đối tượng theo tiêu chuẩn lựa chọn.

- Đánh giá mức độ rối loạn vận động theo thang điểm thống nhất đánh giá bệnh Parkinson (UPDRS - phần III) [7].

- Đánh giá giai đoạn bệnh theo Hoehn và Yahr, gồm 5 giai đoạn [8].

- Thang đánh giá trạng thái tâm thần tối thiểu (Mini - Mental State Examination - MMSE) [5].

- Xét nghiệm nồng độ dopamin huyết tương bằng phương pháp miễn dịch enzym (Enzym Immuno Assay) và định lượng bằng phương pháp ELISA tại Khoa Miễn dịch, Bệnh viện TWQĐ 108.

- So sánh nồng độ dopamin huyết tương giữa nhóm bệnh và nhóm chứng, mối liên quan giữa nồng độ dopamin huyết tương với một số đặc điểm lâm sàng nhóm bệnh.

* Xử lý số liệu: bằng phần mềm SPSS 15.0.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

1. Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu.

* Đặc điểm giai đoạn bệnh theo Hoeh và Yahr (n = 30):

Giai đoạn I: 6 BN (20,0%); giai đoạn II: 9 BN (30,0%); giai đoạn III: 15 BN (50,0%); giai đoạn IV: 0 BN.

Số lượng BN mắc bệnh tập trung chủ yếu ở giai đoạn II và III (80%), trong đó,  tỷ lệ cao nhất ở giai đoạn III.

Nghiên cứu của Nguyễn Thế Anh, đa số BN có thời gian mắc bệnh < 5 năm (82%), phần lớn BN ở giai đoạn đầu của bệnh (giai đoạn I và II) (70%), không có BN nào ở giai đoạn IV và V [1]. Nhữ Đình Sơn (2004) [5] nghiên cứu đặc điểm lâm sàng 103 BN thấy, 73% BN ở giai đoạn I và II. Nghiên cứu của Nguyễn Thế Anh, đa số BN có thời gian mắc bệnh < 5 năm (82%), phần lớn BN ở giai đoạn đầu của bệnh (giai đoạn I và II) chiếm 70%, không có BN nào ở giai đoạn IV và V.

* Đặc điểm mức độ bệnh theo thang điểm UPDRS (n = 30):

Nhẹ (1 - 14 điểm): 6 BN (15,0%); vừa (15 - 28 điểm): 10 BN (33,3%); nặng (29 - 42 điểm): 14 BN (46,7%); rất nặng (43 - 56 điểm): 0 BN.

Phần lớn BN rối loạn vận động ở mức độ vừa và nặng (80%), trong đó, mức độ nặng chiếm tỷ lệ cao nhất.

Nhiều nghiên cứu về mức độ rối loạn vận động cũng cho thấy tỷ lệ gần tương tự: Nhữ Đình Sơn gặp 88,37% BN rối loạn chức năng vận động ở mức độ nhẹ và vừa, mức độ nặng và rất nặng là 11,63% [5]; Nguyễn Thế Anh (2008): 52% BN rối loạn chức năng vận động mức độ nhẹ, mức độ trung bình: 32%, mức độ nặng: 16% [1].

2. Nồng độ dopamin huyết tương ở đối tượng nghiên cứu.

Bảng 1: Nồng độ dopamin nhóm bệnh và nhóm chứng.

(B1: nhóm bệnh có nồng độ dopamin huyết tương dưới ngưỡng phát hiện của kít.

B2: nhóm bệnh có nồng độ dopamin huyết tương trong ngưỡng phát hiện của kít.

Nghiên cứu của chúng tôi bước đầu định lượng nồng độ dopamin huyết tương cũng nhận thấy nồng độ dopamin huyết tương ở nhóm bệnh Parkinson (B1 và B2) thấp hơn so với nhóm chứng, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01).

Dopamin được hình thành từ vỏ não, cầu não, thần kinh ngoại vi, các hạch giao cảm... và thường lưu hành trong máu. Nồng độ dopamin tự do trong máu tăng khi có kích thích cường giao cảm. Như vậy, ở tư thế đứng, vận động nhiều, một số phản ứng cảm xúc và giảm đường huyết có thể gây tăng dopamin trong máu. Dopamin máu giảm khi thực hiện chế độ ăn kiêng muối và dopamin còn có vai trò điều tiết aldosteron trong cơ thể.

Woolf P.D và CS (1993) tiến hành định lượng dopamin bằng phương pháp enzym phóng xạ trên người bình thường và không thấy khác biệt về giới của nồng độ dopamin. Ở người bình thường, nồng độ dopamin là 31 pg/ml [6].

Kết quả nghiên cứu nồng độ dopamin huyết tương ở BN tâm thần phân liệt thể paranoid của Nguyễn Thanh Bình cho thấy, nồng độ ở nhóm bệnh (29,06 ± 8,24 pg/ml) lớn hơn so với nhóm chứng (16,69 ± 4,74 pg/ml), khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) [2].

 

Bệnh Parkinson xảy ra chủ yếu sau  60 tuổi. Ở những người cao tuổi, bệnh này được coi là bình thường, các hội chứng vận động có nhiều điểm giống triệu chứng Parkinson. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy giả thuyết nêu trên không hoàn toàn chắc chắn: nhiều triệu chứng ngoại tháp ở người già không đỡ khi điều trị bằng L-dopa. Bằng kỹ thuật gắn huỳnh quang vào dopamin ở thể vân, người ta thấy vị trí gắn của chất đánh dấu không giống nhau giữa người bị Parkinson và người già trong quá trình lão hóa thông thường. Như vậy, nguyên nhân gây bệnh Parkinson không đơn thuần là do gia tăng quá trình lão hóa, nhưng việc tham gia của yếu tố sinh lý vào cơ chế bệnh sinh của bệnh này cũng không thể bỏ qua [4]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, tuổi của BN càng cao, nồng độ dopamin càng giảm ở cả nhóm bệnh và nhóm chứng. Nồng độ dopamin nhóm bệnh ở các nhóm tuổi  đều thấp hơn nhóm chứng, khác biệt có  ý nghĩa thống kê (p < 0,01). Phải chăng quá trình lão hóa sinh lý cũng ảnh hưởng đến bệnh Parkinson.

Thời gian mắc bệnh càng dài, nồng độ dopamin huyết tương càng giảm.

Phương trình tương quan: y = 7,516 - 2,34x (y: nồng độ dopamin huyết tương, x: giai đoạn bệnh), cho thấy giai đoạn bệnh càng nặng, nồng độ dopamin huyết tương càng giảm. Giữa giai đoạn bệnh và nồng độ dopamin có mối tương quan nghịch mức độ vừa với hệ số tương quan Spearman = -0,397, p < 0,05.

Phương trình tương quan: y = 7,172 - 0,211x (y: nồng độ dopamin huyết tương, x: mức độ bệnh tính theo điểm của thang UPDRS), cho thấy mức độ bệnh càng nặng, nồng độ dopamin càng giảm. Giữa mức độ bệnh và nồng độ dopamin có mối tương quan nghịch mức độ vừa với hệ số tương quan Spearman = -0,462, p < 0,05.

Thực tế, triệu chứng vận động chậm chạp liên quan chặt chẽ với mức độ suy giảm chất dopamin trong não nhiều hay ít. Người ta nhận thấy, khi chưa có triệu chứng Parkinson, dopamin có thể giảm < 50%; khi đã có biểu hiện của các triệu chứng, dopamin giảm tới 70%; ở BN mắc bệnh Parkinson, dopamin giảm tới > 90% [3, 9]. Phải chăng, cũng có mối liên quan giữa mức độ bệnh và giai đoạn bệnh với nồng độ dopamin huyết tương.

Nồng độ dopamin huyết tương có xu hướng cao hơn ở nhóm không suy giảm nhận thức.

Suy giảm nhận thức phát triển dần trong quá trình tiến triển của bệnh Parkinson, lúc đầu còn nhẹ, càng về sau càng nặng dần và có thể gây sa sút trí tuệ thực sự.

KẾT LUẬN

- Nồng độ dopamin trung bình của nhóm bệnh B1 (0 pg/ml), nhóm B2 (4,51± 2,93 pg/ml) đều nhỏ hơn so với nhóm chứng (9,68 ± 4,18 pg/ml), khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01).

- Tuổi của BN càng cao, nồng độ dopamin càng giảm ở cả nhóm bệnh và nhóm chứng. Nồng độ dopamin nhóm bệnh ở các nhóm tuổi đều thấp hơn nhóm chứng, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01).

- Thời gian mắc bệnh càng dài, nồng độ dopamin huyết tương càng giảm.

- Giai đoạn bệnh càng muộn, nồng độ dopamin càng giảm. Giữa giai đoạn bệnh và nồng độ dopamin có mối tương quan nghịch mức độ vừa với hệ số tương quan là -0,397.

- Mức độ bệnh càng nặng, nồng độ dopamin huyết tương càng giảm. Giữa mức độ bệnh và nồng độ dopamin huyết tương có mối tương quan nghịch mức độ vừa với hệ số tương quan là -0,496.

- Nồng độ dopamin huyết tương có xu hướng cao hơn ở nhóm không suy giảm nhận thức.

KIẾN NGHỊ

Cần tiếp tục nghiên cứu dài hơn với số lượng BN lớn hơn về nồng độ dopamin huyết tương, đồng thời mở rộng nghiên cứu nồng độ dopamin dịch não tủy ở BN mắc bệnh Parkinson. Từ đó, cần tìm hiểu thêm mối liên quan giữa nồng độ dopamin huyết tương với nồng độ dopamin dịch não tủy và các triệu chứng lâm sàng, các yếu tố khác ở BN bị bệnh Parkinson.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Thế Anh. Nghiên cứu một số đặc điểm chức năng nhận thức ở BN Parkinson cao tuổi. Luận văn Thạc sỹ Y học. Trường Đại học Y Hà Nội. 2008.

2. Nguyễn Thanh Bình. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và nồng độ dopamin huyết  tương ở BN tâm thần phần liệt thể Paranoid. Luận án Tiến sỹ Y học. Học viện Quân y. 2010.

3. Lê Đức Hinh. Bệnh Parkinson. Nhà xuất bản Y học. Hà Nội. 2008.

4. Nguyễn Văn Chương. Một số bệnh thoái hóa và di truyền hệ thần kinh. Nhà xuất bản  Y học. Hà Nội. 2006, tr.67-97.

5. Nhữ Đình Sơn. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ của bệnh Parkinson. Luận án Tiến  sỹ Y học. Học viện Quân y. 2004.

6. Woolf P.D, Akowuah  E.S, Lee L. et al. Evaluation of the dopamine response to stress in man. J Clin Endocrinol Metab. 1993, 56 (2), pp.246-250.

7. Functional and Streotactic Neurology Staging of Parkinson’s Disease. MGH Neurosugical Service. 1999.

8. Poewe, Wenning. The history natural         of Parkinson’s disease. Anneurol. 1998, 44 supple 1. S1-S9.

9. Hauser. R. Parkinson’s disease questions and answers. Merit publishing second edition. 1997.

 

Hoàng Thị Dung*; Phan Việt Nga*

 

Dịch vụ thiết kế website wordpress