Viêm da mủ

T6, 09/10/2020

I - Đại cương :

Bình thường trên da có nhiều tạp khuẩn, phần lớn là tụ cầu và liên cầu, nhiều nhất là ở những vùng lắm lông và lắm mồ hôi, các nếp kẽ, lỗ chân lông. Nơi tập trung mồ hôi, chất bã nhờn, bụi bẩn cũng là cửa ngõ để vi khuẩn xâm nhập vào da.

Trong những điều kiện thuận lợi như cơ thể  suy yếu, vệ sinh kém, ngứa gãi, sây xát da.… tạp khuẩn trên da tăng sinh, tăng độc tố gây nên bệnh ngoài da gọi chung là viêm da mủ.

Người ta thường phân thành viêm bì mủ do tụ cầu và viêm bì mủ liên cầu, nhưng ít khi hai loại cầu khuẩn đó hoạt động riêng rẽ mà phần nhiều cùng phối hợp gây bệnh.

Điều trị viêm bì mủ không những chỉ điều trị chứng nhiễm khuẩn tại chỗ ngoài da, mà còn phải chú ý nâng cao sức đề kháng, thay đổi phản ứng của cơ thể, nhất là đối với viêm bì mủ mãn tính, tái phát dai dẳng.

Trong bộ đội thường gặp ở những người công tác lao động, chiến đấu căng thẳng, hay bị chấn thương xây sát trên da, vệ sinh thiếu sót, dinh dưỡng kém. Viêm bì mủ còn là tổn thương thứ phát của nhiều bệnh ngoài da gây ngứa như ghẻ Eczema, sẩn cục…

II- Viêm bì mủ do tụ cầu :

Tụ cầu thường gây tổn thương viêm nang lông, biểu hiện bằng những mụn mủ ăn khớp với lỗ chân lông, rải rác hoặc thành cụm ở bất cứ vùng da nào trừ lòng bàn tay, bàn chân.

Có những thể bệnh chính sau:

1/ Viêm nang lông nông(superficial folliculitis):( còn gọi là chốc Bockhart)

- Là tình trạng viêm nông ở đầu lỗ chân lông. Ban đầu lỗ chân lông hơi sưng đỏ, đau, sau thành mụn mủ nhỏ, quanh chân lông có quầng viêm. Vài ngày sau mụn mủ khô, để lại một vẩy tiết nâu sẫm tròn. Sau cùng vẩy bong không để lại sẹo.

- Vị trí thường gặp ở đầu, trán, gáy, cằm, lưng. Ở mi mắt gọi là chắp. Ở da đầu trẻ em thường để lại sẹo nhỏ, trụi tóc lấm tấm.

- Điều trị dùng thuốc bôi, một trong các loại sau : chấm cồn Iốt 1-3%,hoặc dung dịch xanh methylen 1%. Bôi mỡ chloroxid 1%,kem silver,mỡ bactroban, mỡ fucidin

2/ Viêm nang lông sâu :(Deep folliculitis)

- Do tụ cầu vàng có độc tố cao.

- Ban đầu chỉ là mụn mủ quanh lỗ chân lông, nhưng nhiễm khuẩn ngày càng sâu làm cho tổ chức quanh nang lông nhiễm cộm. Viêm lan rộng và  sâu hơn thành nhiều mụn mủ rải rác hoặc cụm lại thành đám đỏ, cứng cộm gồ gề nặn ra mủ.

- Viêm nang lông sâu ở vùng cằm, mép, gáy, ria tóc,đầu. gọi là Sycosis, tiến triển dai dẳng hay tái phát.

- Điều trị :

Tại chỗ bằng dung dịch sát khuẩn,thuốc màu( cồn Iốt 1-3% xanh methylen 1%) mỡ kháng sinh Penixilin, Chloroxid 1%, oxyd vàng thuỷ ngân 10%.mỡ bactroban,mỡ fucidin.

- Nếu nặng cho uống từng đợt kháng sinh chung.

Kết hợp cho thuốc giải cảm, an thần, nếu cần có thể cho tiêm vacxin tụ cầu .

Tránh trà sát mạnh làm vỡ mủ, lan mủ ra vùng da lân cận.

3/ Đinh nhọt : ( furoncle)

- Cũng là trạng thái viêm nang lông. Do tụ cầu vàng độc tố  cao nên viêm toàn bộ nang lông, lan ra cả tổ chức xung quanh, nang lông hoại tử tạo thành "ngòi" gồm tế bào, xác bạch cầu.

- Vị trí hay gặp ở gáy, lưng, mông, các chi.

- Tiến triển ; Ban đầu nổi thành u đỏ, đau, quanh chân lông,nắn cứng cộm (Giai đoạn 1): Dần dần u mềm có triệu chứng ba động làm mủ,tạo ngòi.( Giai đoạn 2): Khoảng ngày thứ 8-10 nhọt mềm nhũn, vỡ mủ nặn ra một ngòi đặc sau đó lành sẹo  ( Giai đoạn 3).

Nếu đinh nhọt to có thể kèm theo sốt, nổi hạch đau ở vùng tương xứng

Đinh nhọt ở lỗ tai giữa rất đau, nhân dân gọi là "đằng đằng".

Đinh nhọt ở vùng quanh miệng gọi là "đinh râu" rất nguy hiểm, tụ cầu vàng có thể từ chỗ bị đinh dâu xâm nhập vào tĩnh mạch nền sọ vào tuần hoàn chung gây  nhiễm khuẩn huyết, không nên chích nặn sớm.

-.Hậu bối (carbuncle) còn gọi là đinh hương sen, là một cụm đinh nhọt có nhiều mủ nhiều ngòi gặp ở vùng gáy giữa hai bả vai, xương cùng. Do tụ cầu vàng độc tính cao, gây viêm lan sâu rộng đến chân bì và hạ bì làm hoại tử cả một vùng . Thường gặp ở người già, người suy yếu . Toàn thân bệnh nhân yếu mệt, sôt cao có triệu chứng nhiễm trùng nhiễm độc nặng . tại chỗ là đám đỏ viêm tấy, sưng nề, kích thước 5-20 cm,đỏ tím có nhiều mủ, nhiều ngòi, lỗ chỗ như tổ ong. Có thể dẫn tới nhiễm khuẩn huyết, , ở mông và xương cùng gây hoại tử hoặc loét,cá biệt có khi chạm vào mạch máu  làm chảy máu .

Nhọt bầy là nhiều đinh nhọt mọc liên tiếp đợt này đến đợt khác, dai dẳng hàng tháng. Thường gặp ở người suy nhược lao tâm lao lực, hoặc đái đường.

- Điều trị :

Đối với đinh nhọt ; không nên  chích nặn sớm. Khi mới nổi sưng đỏ, cứng : chấm cồn I ốt 3-5% hoặc bôi ichthyol nguyên chất, có điều kiện chạy sóng ngắn. Khi nhọt đã vỡ mủ nặn hết ngòi ra, chấm thuốc màu hoặc bôi  mỡ kháng  sinh, toàn thân cho uống hoặc tiêm bắp một đợt kháng sinh như ceftriaxon 1g/ngày một đợt 5-7 ngày.

Đối với đinh râu : tuyệt đối tránh  chích nặn bôi cồn iod 3%. Kịp thời tiêm uống thuốc kháng sinh liều cao,phối hợp kháng sinh, kết hợp sinh tố C, thuốc giảm đau, chạy sóng ngắn.

Đối với hậu bối : Điều trị sớm bằng kháng sinh liều cao,phối hợp kháng sinh, sinh tố, thuốc nâng cao thể trạng . Khi đám tổn thương đã mềm thay băng hàng ngàychấm rửa bằng dung dịch sát khuẩn ,không chích rộng để tháo mủ vì dễ gây nhiễm khuẩn lan rộng.

Đối với nhọt bầy :. dùng từng đợt thuốc kháng sinh, an thần, giải cảm. Chú ý cải thiện điều kiện sinh hoạt , làm việc điều hoà, tránh rượu , cà phê thuốc lá, ăn ít đường ,chống táo bón , điều hoà chức phận gan thận, điều trị đái đường nếu có.

4 - Nhọt ổ gà (hidradenitis):

- Do viêm nang lông, kèm theo viêm tuyến hôi tuyến bã ở vùng nách thành túi mủ sâu ở chân bì và hạ bì.

- Nổi thành cục, ban đầu cứng viêm đỏ sau mềm dần , vỡ mủ , rải rác hoặc thành cụm

- Tiến triển dai dẳng , hay tái phát nhất là về mùa hè.

- Điều trị : , bôi thuốc màu ,mỡ kháng sinh,tiêm uống kháng sinh . Nếu cần giải quyết bằng phẫu thuật như chích nặn các ổ viêm xơ hóa.

III- Viêm bì mủ do liên cầu

1/ Chốc lây ( impetigo  contagiosa)

Trên thực tế trong bệnh chốc , tụ cầu và liên cầu thường phối hợp với nhau. Trẻ em hay bị hơn người lớn.

- Thường bắt đầu ở đầu, cổ, mặt , các chi, từ đó lan ra các chỗ khác . Rất dễ lây nên còn gọi là chốc lây.

- Bệnh bắt đầu bằng một phỏng nước nhỏ, lùng nhùng hình tròn , xung quanh có quầng viêm đỏ. Nước ban đầu trong dần dần thành mủ đục giai đoạn phỏng nước và phỏng mủ rất ngắn. Chẳng bao lâu đóng vẩy tiết vàng kiểu mật ong . Dưới lớp vẩy là một lớp chợt đỏ , nông , sau lành không để lại sẹo vì tổn thương trong bệnh chốc rất nông.

Ở trẻ em chốc đầu thành từng đám vẩy vàng sẫm, dính bết tóc, dưới lớp vẩy da chợt đỏ, rớm nước. Ghẻ, và Eczema trẻ em dễ kèm theo chốc đầu.

Chốc rải rác toàn thân, có thể kèm theo sốt biến chứng viêm cầu thận cấp, nề cẳng chân, mi mắt do viêm cầu thận. Chốc thường gâynổi  hạch ở vùng tương ứng.

- Điều trị:

Chốc có nhiều vẩy : đắp gạc chấm rửa các dung dịch sát khuẩn như dung dịch rivanol 1%o ,dd berberin 1%o, dd nước muối sinh lý 9 %o....sau đó bôi thuốc màu như dd xanh metilen 1%,dd tím methyl 1%,dd Milian.

Chốc có phỏng mủ chưa vỡ : dùng kim đã sát trùng chọc mủ ra, cho mủ thấm vào bông, không để mủ chảy lan ra vùng da lân cận . Sau đó chấm các loại thuốc màu như dung dịch milian xanh methylen 1%,dd eosin 2% hoặc mỡ kháng sinh. như mỡ chlorocid 1%  kem silver, kem Fucidin , mỡ bactroban.Nếu có sốt  , nổi hạch nhiều : cho thêm kháng sinh uống .

Khi tắm gội, tránh kỳ cọ mạnh lên tổn thương.

- Phòng bệnh : ở nhà trẻ cần phòng tránh lây lan không dùng chung chăn khăn mặt với người có bệnh.

2/ Chốc loét ( ecthyma) :

Là một thể chốc, nhưng tổn thương lan sâu đến trung bì.

- Thường gặp chốc loét ở bệnh nhân thiếu dinh dưỡng thiếu vệ sinh cơ thể yếu kém ,có bệnh đái đường hoặc nghiện rượu.

-  Vị trí thường ở chi dưới, nhất là ở chi có giãn tĩnh mạch.

- Bệnh bắt đầu như chốc, bằng một phỏng nước hoặc một phỏng mủ . Sau khi phỏng mủ vỡ, đóng vẩy dày màu vàng sẫm hoặc nâu đen , có vẩy thành nhiều lớp đùn cao lên gọi là vẩy ốc(rupia). Bóc vẩy để lại một vết loét đứng thành, nền  tái, rớm mủ, ít nụ thịt . Da xung quanh vết loét tái tím, tiến triển dai dẳng , lâu lành .

Chốc loét nặng , tiến triển lâu ngày có thể thành loét sâu quảng. Vết loét có ranh giới rõ, thường là hình bầu dục , có khi có gờ, loét rộng và sâu nền bẩn , tổ chức da xung quanh xơ cứng , màu tái tím, tiến triển rất dai dẳng.

- Điều trị :

Rửa vết loét bằng  dung dịch thuốc tím pha thật lõang1/4000, hoặc dung dịch rivanol 1%o. Chấm dung dịch Nitrat bạc 0,25- 0,50%. Sau đó bôi mỡ kháng sinh.Toàn thân cho uống tiêm từng đợt kháng sinh.

Chiếu tia cực tím tại chỗ để kích thích lên da non.

Nâng cao thể địa bằng dinh dưỡng, sinh tố A, B1, C….

3/ hăm kẽ ( intertrigo)

Có tác giả gọi làviêm bì thượng bì vi khuẩn ( dermoepidermite microbienne).

Thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ em mập mạp, hoặc ở người lớn béo mập, ra mồ hôi nhiều.

Vị trí : các nếp cổ, kẽ bẹn, kẽ mông, kẽ sau tai, có khi ở rốn,các ngấn da ( đối với trẻ em thường gọi là hăm).

Các nếp kẽ trên thành đám đỏ, trợt, rớm dịch, phía ngoài thường có viền róc da mỏng. Do cọ sát, bí hơi đám tổn thương có thể trợt loét chảy nước, có  mủ, đau rát.

- Nguyên nhân: chủ yếu do liên cầu, một số trường hợp do nấm candida albicans (trên nền đỏ trợt, có mảng trắng như sữa, có viền róc da vằn vèo ở ngoại vi ,soi cấy có nấm candida).

- Điều trị :

Rửa bằng nước thuốc tím 1/4000, chấm dung dịch yarish , nitrat bạc 0,25%. Bôi thuốc màu, hồ nước,khi tổn thương khô bôi kem kháng sinh như silver , fucidin , bactroban, không nên bôi thuốc mỡ lép nhép. Rắc bột talc boric 3% có tác dụng tốt.

Đông y: chấm nước lá thồm lồm( đuôi tôm).

- Phòng bệnh : mùa hè đối với  trẻ em cần  năng tắm rửa, thay tã lót, rắc bột talc, phấn rôm vào các nếp kẽ.

4- Chốc mép(perlech):

Thường gặp ở trẻ em, đơn độc hoặc kèm theo các tổn thương khác do liên cầu:

- Hai kẽ mép bị nứt trợt, rớm dịch, đóng vảy vàng dẽ chảy máu, đau rát, làm trẻ khó bú.

- Thường kèm theo sưng đau hạch đau dưới hàm.

- Điều trị : Chấm dung dịch yarish, Nitrat bạc 0,25% thuốc màu, mỡ kháng sinh neomyxin, mỡ biomyxin 3%, mỡ chlorocid 1% mỡ fucidin,mỡ bactroban .

5.Viêm quầng (erysipelas)

-.Căn nguyên Bệnh sinh :

Là một bệnh nhiễm khuẩn da và mô dưới  da với chủng Streptococcus. pyogenes tăng độc tố.  Bệnh gặp ở trẻ sơ sinh , trẻ em , người già hoặc ở các bệnh nhân có kèm các bệnh nội khoa khác  thì  cũng nặng.

Vi khuẩn xâm nhập trực tiếp hoặc qua đường máu đặc biệt khi có các  chấn thương  ở các mô, sự mẫn cảm chung tăng lên, hoặc khi bệnh nhân thiểu dưỡng, nghiện rượu hoặc hạ  gamma globulin bẩm sinh. Các tổn thương tại chỗ có xu hướng phù, viêm đường bạch mạch. Gần đây người ta nghĩ nhiều đến các khuyết tật của hệ thống lymphô có thể dẫn đến hay mắc bệnh Erysipelas.

Sự khu trú gọn , không rải rác có thể làm ta phân biệt được giữa Erysipelas và viêm mô tế bào (cellulitis)do liên cầu trùng và tụ cầu vàng .

. Lâm sàng .

Thời gian ủ bệnh 2- 5 ngày , sau đó sốt cao đột ngột, một đôi khi co giật ở trẻ  em kèm với đau đầu, sốt rét và nôn mửa . Da vùng sắp tổn thương cảm thấy căng và ngày thứ 2 thấy đỏ, phù, bóng. Đám viêm quầng mầu đỏ tươi kích thước vài cm đến hàng chục cm, hơi cao hơn mặt da, nề, cộm, ranh giới rõ, có bờ con trạch gồ cao. Đau tự nhiên hay sờ nắn vào thì đau. ở các vùng tổ chức lỏng lẻo có khi tạo phù nề mạnh ( mi mắt, sinh dục ) hoặc ban đỏ có giới hạn rõ và có thể thấy mụn nước ở ria hoặc có khi là  đám  phù nề ,sưng nóng đỏ đau  giới hạn rõ, ở giữa đám tổn thương có khi có  phỏng nước thậm chí loét hoại tử.

Không điều trị gì bệnh kéo dài từ 1- 3 tuần rồi khỏi dần, đám đỏ da giảm dần, bề mặt có thể xuất hiện róc vẩy da nhất là ở các vùng có mụn nước hay phỏng nước trước đây.

Vị trí thông thường của tổn thương là bụng-  trẻ sơ sinh. Mặt , da đầu, tai, ở trẻ lớn hơn. ở người lớn gặp ở chân 50 % trường hợp, 35 % ở mặt, 3 % ở tai, còn có thể thấy xúât hiện tổn thương sau một nhiễm trùng ngoài da như  loét sâu quảng. Mức độ phù thay đổi tuỳ từng vùng. Bên cạnh tổn thương  bị  nhiễm sắc, sáng và bong vẩy.

Triệu chứng toàn thân thường nặng ở những người có sức đề kháng yếu. Toàn trạng sốt cao li bì, hạch lymphô khu trú sưng đau. Có thể thấy biến chứng viêm nội tâm mạc, khớp , màng não, bạch cầu tăng cao công thức chuyển trái, albumin niệu.

Cân điều trị phối hợp với các biến chứng kèm theo như viêm cầu thận, áp xe dưới da, nhiễm trùng huyết. Nếu có biến chứng như vậy thì tỉ lệ tử vong 50 % ở trẻ em.

Bệnh có thể tái phát khi có  sự giảm miễn dịch hoặc  sự kéo dài của các yếu tố gây bệnh. Hệ lymphô bị phù nề, cơ thể mệt mỏi là dấu hiệu báo trước cho đợt cấp hay các đợt tái phát xuất hiện lại ở trên các vị trí cũ của bệnh.

 

-. Điều trị .

Cần phải điều trị kháng sinh mạnh ngay từ đầu thường dùngtiêm bắp 1 đợt Lincomycin, Gentamycin , thậm chí dùng  claforal,Rocephin. Trong điều trị lưu ý nên phối hợp với điều trị triệu chứng giảm đau ,chống viêm, an thần, vitamin các loại

 

Câu hỏi ôn tập

  1. Lâm sàng và điều trị các bệnh viêm da mủ do tụ cầu?
  2. Lâm sàng và điều trị các bệnh viêm da mủ do liên cầu?

Tài liệu tham khảo

Tiếng Việt

  1. 1. Bùi Khánh Duy, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Ngọc Thụy và cs, (2008), “Bệnh da và hoa liễu”, Học viện Quân y- Bộ môn Da liễu, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà nội.
  2. 2. Nguyễn Xuân Hiền, Tr­ơng Mộc Lợi, Bùi Khánh Duy, (1991),”Bệnh ngoài da và hoa liễu”, Nhà xuất bản Y học Thành phố Hồ Chí Minh.

Tiếng Anh

  1. 3. Klaus W., Lowell A., Goldsmith et al, (2008), “Fitzpatrick’s Dermatolology in general medicin”, 7th Edition, part. 9, Section. 33.

 

Ngư­ời biên soạn

PGS. TS. Trần Đăng Quyết

Dịch vụ thiết kế website wordpress