Tóm tắt
Nghiên cứu trên 43 bệnh nhân (BN) tăng huyết áp (THA) theo 3 thể của y học cổ truyền (YHCT) gồm can dương thượng cang, đàm trọc trung trở, can thận âm hư; điều trị bằng bài thuốc “Giáng áp - 08” tại Khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện 103; BN được theo dõi huyết áp (HA) 24 giờ bằng máy đo huyết áp lưu động (ABPM). Kết quả nghiên cứu cho thấy:
- Thuốc có tác dụng hạ HA tâm thu, HA tâm trương và HA trung bình ở cả 3 thể bệnh rõ rệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Mức giảm giữa các thể bệnh khác nhau không có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Bài thuốc làm giảm HA trung bình chung cho cả 3 thể đạt 95,35%.
- Không xuất hiện các tác dụng không mong muốn trên lâm sàng; một số chỉ số huyết học, sinh hóa máu về chức năng gan, thận thay đổi không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) trong thời gian điều trị.
*Từ khóa: Tăng huyết áp; Bài thuốc "Giáng áp - 08" .
THE EFFECT OF "GIANG AP - 08"
REMEDY ON REDUCING OF BLOOD PRESSURE
SUMMARY
The study was carried out on 43 patients with hypertension (of 3 different types of the disease categorized by traditional medicine, including hyperacivity of live - yang, mental disoder due to stagnation of phelgm, deficiency of liver - yin, admitted to and treated at Dept. of Traditional Medicine,103 Hospital. The patients were treated by a traditional medicinal remedy, namedy “Giang ap - 08”. Blood pressure (BP) number were recorded for 24 - hour a day using ABPM (ambulatory blood pressure monitoring) equipment. The results showed that:
- The remedy showed significant BP reducing effect on both systolic and diastolic BP, as well as mean BP numbers, in patients of all 3 types of the disease hyperacivity of liver - yang, mental disorder due to stagnation of phelgm, deficiency of live - yin mentioned above (p<0.001). There was, however, no significant difference between levels of improvement among 3 types of the disease (p> 0.05). In general, the remedy was effective in reducing mean BP numbers in 95.35% of the patients.
- No adverse effects was observed clinically; several hematology and blood chemistry parameters regarding live and kidney functions had changed during treatment, but non - significantly (p>0.05).
*Key words: Hypertension; "Giang ap - 08" remedy
ĐẶT VẤN ĐỀ.
Tăng huyết áp là bệnh tim mạch gây nhiều biến chứng nặng ở não, tim mạch, thận và mắt [3]. Trong YHCT chưa có bệnh danh “bệnh tăng HA”, nhưng căn cứ vào biểu hiện lâm sàng có thể thấy bệnh này thuộc phạm vi các chứng “huyễn vựng”, “đầu thống”, “tâm quý”, “thủy thũng” của YHCT [1], [5].
Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam và trên thế giới, đặc biệt là ở Trung Quốc đã đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu mối liên hệ giữa triệu chứng của bệnh tăng HA với các triệu chứng của chứng huyễn vựng trong YHCT. Các tác giả đều nhận thấy giữa bệnh tăng HA và chứng huyễn vựng có rất nhiều nét tương đồng. Khi áp dụng phương pháp điều trị chứng huyễn vựng cho bệnh nhân (BN) tăng HA đều thấy HA giảm và các triệu chứng lâm sàng được cải thiện [5], [8]. Dựa trên y lý của YHCT kết hợp với dược lý học hiện đại chúng tôi xây dựng bài thuốc "Giáng áp - 08" nhằm đánh giá tác dụng hạ HA ở các thể bệnh của YHCT trên BN tăng HA, đồng thời làm phong phú thêm các thuốc y học cổ truyền trong điều trị bệnh tăng HA.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1. Đối tượng:
* Vật liệu nghiên cứu:
Bài thuốc “Giáng áp - 08” có thành phần: Câu đằng 20g, Hạ khô thảo 20g, Thạch quyết minh 20g, Đan bì 15g, Bạch thược 20g, Đương quy 15g, Đại hoàng 05g, Chỉ xác15g, Đan sâm 20g, Ngưu tất 20g, Qua lâu nhân 15g, Trạch tả 15g, Hoàng kỳ 20g, Đỗ trọng 15g.
Thuốc được kiểm tra, bào chế đạt tiêu chuẩn cơ sở và sắc bằng máy Electric Herb Extractor Machine-Korea (Hàn Quốc) ở nhiệt độ 120oC, áp suất 1,5 at, duy trì sôi trong 4 giờ, mỗi thang đóng thành 2 túi 120 ml, thực hiện tại Khoa Dược, Bệnh viện 103.
* Đối tượng nghiên cứu:
43 BN có chẩn đoán THA nguyên phát độ I hoặc độ II, giai đoạn I-II, không phân biệt giới tính, điều trị nội trú tại Khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện 103, từ tháng 12/2008-9/2009.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang, theo dõi dọc trước và sau điều trị.
+ Chọn BN nghiên cứu:
- Về y học hiện đại, chẩn đoán độ THA theo tiêu chuẩn của WHO/ISH, 1999, chẩn đoán giai đoạn THA theo tiêu chuẩn của WHO/ISH, 1993 (BN có chỉ số HA tâm thu từ 140-180 mmHg và/hoặc HA tâm trương từ 90-110 mmHg).
- Về YHCT, BN được khám và chẩn đoán bằng tứ chẩn, các thể bệnh theo Lưu Diệc Tuyển (Bắc Kinh, 1998) gồm:
. Thể Can dương thượng cang: người bệnh căng váng đầu, hoa mắt, ù tai, mặt đỏ, tính tình nóng nảy, hay cáu giận, miệng đắng ngủ kém. Chất lưỡi đỏ, mạch huyền.
. Thể can thận âm hư: hoa mắt chóng mặt, váng đầu, mệt mỏi, hay quên, đau lưng mỏi gối, ù tai, mất ngủ, có thể di tinh. Lòng bàn tay bàn chân nóng, nước tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, mạch huyền tế sác.
. Thể đàm trọc trung trở: hoa mắt chóng mặt, cảm giác nặng nề, đầy bụng, ăn ít dễ buồn nôn, người béo bệu, ngủ hay mê. Chất lưỡi bệu, rêu vàng nhớp, mạch nhu hoạt.
+ Loại trừ các BN THA thứ phát, suy gan, suy thận mức độ vừa và nặng, thể âm dương lưỡng hư theo YHCT.
+ Tiêu chuẩn đánh giá kết quả [8] :
- Lâm sàng :
Hiệu quả rõ: hết triệu chứng cơ năng.
Có hiệu quả: triệu chứng cơ năng giảm nhẹ.
Không hiệu quả: triệu chứng cơ năng không giảm so với trước khi điều trị.
- Theo mức độ huyết áp:
Hiệu quả tốt: HA trung bình giảm >20 mmHg
Hiệu quả khá: HA trung bình giảm từ 11 - 20 mmHg
Hiệu quả trung bình: HA trung bình giảm từ 6 - 10 mmHg.
Không hiệu quả: HA trung bình ≤ 5 mmHg, hoặc không giảm, hoặc tăng.
+ Các bước tiến hành: trước khi vào nghiên cứu, các BN được theo dõi HA 24 giờ; xét nghiệm huyết học, sinh hóa máu và các xét nghiệm khác nếu cần; khám theo đặc điểm của y học cổ truyền để biện chứng thể bệnh. Cho BN uống thuốc ngày 2 lần, vào lúc 9 giờ và 16 giờ, mỗi lần 1 túi, liên tục trong 3 tuần, không dùng thêm bất kỳ thuốc hạ áp nào khác. Theo dõi diễn biến HA và lâm sàng khác của BN buổi sáng và chiều hằng ngày trong suốt quá trình điều trị. Theo dõi HA 24 giờ vào ngày thứ 7, 14, 21 khi dùng thuốc. Sau đợt điều trị làm các xét nghiệm như trước khi điều trị để so sánh kết quả.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
1. Đặc điểm BN nghiên cứu:
+ Tuổi: BN có tuổi từ 35-80, trung bình 60,4 tuổi.
+ Thời gian phát hiện tăng HA đến khi nghiên cứu: ≤ 5 năm là 40 BN (93,02%).
+ Phân độ tăng HA: Tăng HA độ I là 8 BN (18,6%); Tăng HA độ II là 35 BN (81,4%).
+ Phân gian đoạn tăng HA: Giai đoạn I là 12 BN (27,9%). Giai đoạn II là 31 BN (72,1%).
+ Thể bệnh theo y học cổ truyền:
- Thể can dương thượng cang: 12 BN (27,9%).
- Thể đàm trọc trung trở: 8 BN (18,6%).
- Thể can thận âm hư: 23 BN (53,5%).
+ Liên quan thể bệnh YHCT với độ và giai đoạn tăng HA:
- Thể can dương thượng cang 12 BN: tăng HA độ I 8 BN (66,67%), độ II 4 BN (33,33%); giai đoạn I 12 BN (100%)
- Thể đàm trọc trung trở 8 BN: tăng HA độ II 8 BN (100%); giai đoạn II 8 BN (100%)
- Thể can thận âm hư 23 BN tăng HA độ II 23 BN (100%); giai đoạn II 23 BN (100%)
2. Mối liên quan giữa các thể bệnh của YHCT với tăng HA:
Trong nghiên cứu của chúng tôi, thể can dương thượng cang gặp trong tăng HA độ I, giai đoạn I; thể can thận âm hư và thể đàm trọc trung trở gặp trong tăng HA độ II, giai đoạn II. Kết quả của chúng tôi tương đương với kết quả của một số tác giả khác:
Trần Thị Lụa (2005) nghiên cứu mối liên quan giữa các thể YHCT với BN THA thấy THA độ I chỉ gặp thể can dương thượng cang; THA độ II, III chủ yếu gặp thể can thận âm hư (63,6%); còn lại là thể can dương thượng cang (17,3-17,4%) và thể đàm thấp trở trệ (9,1-13,0%) [6]. Từ Quý Thành, Lý Huy (2003) phân tích 126 ca THA nguyên phát thấy thể can dương thượng cang, đàm trọc trung trở tương đương với độ I, thể can thận âm hư tương đương với THA độ II và âm dương lưỡng hư tương đương với THA độ III [9].
Theo YHCT, nguyên nhân gây ra chứng huyễn vựng là do phong - đàm - hỏa. Lúc mới khởi phát, can dương thượng nghịch hóa phong (tương đương với THA độ I). Trong quá trình diễn biến của bệnh, phong dương mỗi ngày một mạnh thêm kèm theo đàm hỏa thượng nghịch làm tổn thương phần âm của cơ thể. Thường thì THA gặp nhiều ở người lớn tuổi, thận khí suy, thận thủy bất túc làm thủy không dưỡng được mộc gây nên chứng can thận âm hư (THA độ II). Âm hư lâu ngày sẽ dẫn đến dương hư và khiến cho âm dương lưỡng hư (THA độ III). Khi bệnh đã tiến triển và gây tổn thương cả khí huyết thì việc lập lại cân bằng âm dương sẽ khó khăn hơn [11].
3. Hiệu quả hạ huyết áp theo các thể bệnh của YHCT



Sau điều trị, HA tâm thu, HA tâm trương, HA trung bình của BN ở cả ba thể bệnh của YHCT đều giảm rõ rệt với p <0,001. Mức giảm giữa các thể bệnh khác nhau không có ý nghĩa với p > 0,05.

4. Hiệu quả hạ HA theo thể bệnh của YHCT:
Theo cách phân loại của YHCT thì bệnh nhân tăng HA trong nghiên cứu của chúng tôi thuộc 3 thể là can dương thượng cang, đàm trọc trung trở, can thận âm hư. Kết quả nghiên cứu cho thấy sau điều trị HA tâm thu, HA tâm trương và HA trung bình ở cả 3 thể đều giảm rõ rệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Khi so sánh tác dụng hạ HA đối với từng thể bệnh thì thấy mức giảm HA ở thể can dương thượng cang và đàm trọc trung trở tốt hơn thể can thận âm hư, nhưng mức giảm HA giữa 3 thể sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Như vậy bài thuốc của chúng tôi hạ HA rõ rệt ở cả 3 thể của YHCT.
Thuốc "Giáng áp - 08" có tác dụng làm giảm HA trung bình trên BN ở cả ba thể bệnh của YHCT: 100% với thể can dương thượng cang và đàm trọc trung trở; 91,30% với thể can thận âm hư; hiệu quả chung cho cả 3 thể đạt 95,35%.
So sánh hiệu lực hạ HA của bài thuốc "Giáng áp - 08" với một số bài thuốc YHCT theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả Trung Quốc và Việt Nam đã vận dụng để điều trị bệnh THA, chúng tôi thấy hiệu quả của thuốc "Giáng áp - 08" tương đương với hiệu quả của bài thuốc “Trạch tả giáng áp thang” của Chu Văn Ngọc đạt 98,1% [10]; thấp hơn hiệu quả của bài thuốc “Hoạt huyết bình can” của Thành Hải Nguyên đạt 99% [11]; lớn hơn bài “Thiên ma câu đằng ẩm gia giảm” của Nguyễn Minh Hoàn 83,3% [2].
Những quan niệm về điều trị theo biện chứng luận trị, hay đối pháp lập phương của YHCT tuy vẫn được vận dụng, song do sự phát triển của Y học hiện đại quan niệm đó đã có nhiều thay đổi. Việc sử dụng YHCT trong điều trị bệnh đã được áp dụng dựa trên những thành tựu của YHHĐ đã đạt được kết quả khả quan [7]. Chu Văn Ngọc căn cứ vào một trong những nguyên tắc điều trị THA theo cơ chế lợi tiểu của YHHĐ, đã sử dụng bài “Trạch tả giáng áp thang” với trạch tả liều cao 50-100g, dẫn tới hiệu quả hạ HA gần như tuyệt đối trên lâm sàng: 98,1% [10].
Nguyên nhân, bệnh sinh của bệnh THA theo quan niệm của YHCT là do phong, đàm, hư, hỏa gây nên làm ảnh hưởng chủ yếu đến công năng của các tạng can, tỳ, thận. "Giáng áp - 08" là bài thuốc có tác dụng hoạt huyết, bình can, tiềm dương, tư âm, bổ can thận, trừ đàm, lợi thủy phù hợp với nguyên tắc điều trị chứng huyễn vựng là bình can, tiềm dương, lợi niệu. Chính vì vậy "Giáng áp - 08" đã đạt hiệu quả giảm được HA trên lâm sàng.
5. Thay đổi chức năng gan, thận qua kết quả xét nghiệm (n = 43):

Trước và sau điều trị, một số chỉ tiêu xét nghiệm huyết học, sinh hóa máu về chức năng gan thận biến đổi không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05).
KẾT LUẬN.
Bài thuốc “Giáng áp - 08” với liều dùng ngày 1 thang, chia làm 2 lần; thời gian điều trị trong 21 ngày, nghiên cứu trên 43 BN điều trị THA độ I, II và giai đoạn I, II; kết quả cho thấy:
Thể can dương thượng cang trong nghiên cứu của chúng tôi gặp trong THA độ I, giai đoạn I; thể can thận âm hư và thể đàm trọc trung trở gặp trong THA độ II, giai đoạn II.
Sau điều trị HA tâm thu, HA tâm trương và HA trung bình ở cả 3 thể đều giảm rõ rệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Khi so sánh tác dụng hạ HA đối với từng thể bệnh thì thấy mức giảm HA ở thể can dương thượng cang và đàm trọc trung trở tốt hơn thể can thận âm hư, nhưng mức giảm HA giữa 3 thể sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Thuốc có tác dụng làm giảm HA trung bình trên bệnh nhân ở cả ba thể bệnh của Y học cổ truyền: 100% với thể can dương thượng cang và đàm trọc trung trở; 91,30% với thể can thận âm hư. Hiệu lực chung của bài thuốc đạt 95,35%.
Không thấy tác dụng không mong muốn của thuốc trên lâm sàng trong thời gian điều trị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngô Quyết Chiến (2006), “Bệnh tăng huyết áp nguyên phát”, Bệnh học nội khoa Y học cổ truyền, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 97-106
2. Nguyễn Minh Hoàn (2003), “Đánh giá tác dụng điều trị bệnh tăng huyết áp nguyên phát giai đoạn I, II của bài thuốc Thiên ma câu đằng ẩm gia vị”, Luận văn thạc sỹ y học, Trường đại học Y Hà Nội.
3. Nguyễn Phú Kháng: Tăng huyết áp hệ thống động mạch. Trong: Bệnh học nội khoa, tập 1 - Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008, 194-206.
4. Nguyễn Xuân Khu (2006), Nghiên cứu tác dụng điều trị bệnh tăng huyết áp bằng thuốc GHA. Luận văn tốt nghiệp chuyên khoa cấp II. Học viện Quân y.
5. Nguyễn Nhược Kim, Trần Thị Hồng Thuý (2000), “Bệnh tăng huyết áp với chứng huyễn vựng ở trong y học cổ truyền - Bệnh sinh và trị pháp”, Tạp chí y học cổ truyền Việt Nam (314), tr. 7-10
6. Trịnh Thị Lụa (2005), Khảo sát thể lâm sàng y học cổ truyền bệnh nhân tăng huyết áp điều trị nội trú tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương, Luận văn bác sỹ nội trú, Trường đại học Y Hà Nội.
7. WHO (2002), “Key points: WHO traditional medicine strategy 2002 - 2005”, Policy perspective on Medicine, Traditional medicine - growing needs and potential (2), pp. 1-77.
8. Đới Thận. Huyễn vựng. Tiêu chuẩn chẩn đoán, đánh giá hiệu quả điều trị và các bài thuốc chọn lọc trong điều trị chứng bệnh YHCT. NXB Y học. Bắc kinh, Trung Quốc. 2001, tr 184-188.
9. Từ Quý Thành, Lý Huy. Nghiên cứu lâm sàng pháp hoạt huyết hóa ứ điều trị tăng huyết áp. Tạp chí Trung Tây y kết hợp điều trị bệnh tim mạch. 2003, số 1 (1), tr 25-27.
10. Chu Văn Ngọc. Đánh giá hiệu quả điều trị 104 trường hợp THA bằng bài thuốc “Trạch tả giáng áp”. Tạp chí Trung Tây y kết hợp, 1997, số 9 (4), tr 521.
11. Thành Hải Nguyên. Đánh giá hiệu quả điều trị 100 trường hợp THA bằng bài thuốc “Bình can hoạt huyết”. Tạp chí Thiểm Tây Trung y. 2003, số 24 (8), tr 24-25.
TS. Trần Quốc Bảo








