- Khái niệm:
Tuyễn bã là một chùm nang tuyến nằm ở quanh nang lông và gắn vào lông.
+ Tuyến bã thay đổi gây ra một số bệnh: trứng cá, viêm da da dầu, á sừng, da dầu. á sừng da dầu gây tăng tiết chột bã làm bít các lỗ chân lông dẫn đến hói đầu.
+ Tuyến bã gắn vào nang lông ở nơi có lông. Nơi không có lông thì tuyến bã độc lập như ở vành quy đầu, âm vật, môi, má, hậu môn; chất chế tiết không đổ vào cổ nang lông mà đổ thẳng vào niêm mạc như tuyến Tyson và hạt fox-fordyce. Trừ lòng bàn tay bàn chân là không có tuyến bã.
+ Tuyến bã phát triển mạnh ở tuổi dậy thì.
+ Rối loạn tuyến bã (thường tăng tiết) dẫn đến nhiều bệnh ngoài da.
+ Tuyến bã thuộc loại tuyến toàn hủy.
Tuyến toàn hủy (holocrine): tế bào tuyến, cộng với chất bã bị đào thải toàn bộ.
+ Tuyến toàn vẹn (ecrine): khi đào thảI chỉ mất một phần của tế bào tuyến công với chất bã, ví dụ: tuyến mồ hôI bé.
+ Tuyến đầu hủy (apocrine): chất chế tiết ra có màng bọc, ví dụ tuyến mồ hôI nách, tuyến sữa, tuyến vú.
+ Cơ chế tiết của tuyến bã:
- Nó phụ thuộc vào áp lực của tuyến tức là phụ thuộc vào số lượng tế bào tạo tuyến, nếu càng nhiều thì áp lực càng mạnh, áp lực này sẽ đẩy chất ở trong tuyến rav (hay gặp ở tuổi dậy thì, biểu hiện trứng cá). Tuy nhiên còn phụ thuộc vào từng cơ thể (do gen di truyền).
Nếu rửa sạch da thì tuyến bã tiết ra một lớp bã làm mềm mai không ngấm nước, khi rửa bằng ete cho da sạch hết mở dẫ đến tuyến bã lại tiết mạnh, cho nên trong điều trị bệnh tuyến bã không nên rửa bằng xà phòng, tránh kích thích gây tăng tiết.
- Ngoài ra vài trò của thần kinh cũng ảnh hưởng đến sự tiết tuyến bã: người ta they ở vùng nào trung gian có trung tâm kìm hãm tuyến bá, nếu trung tâm bị thương tổn dẫn đến tăng tiết , ở người hôn mê cũng tăng tiết tuyến bã.
- Nội tiết tốt nam và nữ đều ảnh hưởng đến quá trình tiết tuyến bã.
Nội tiết tố nam: testosterol làm tăng tiết tuyến bã
Nội tiết tố nữ: progesterol, ostrogen làm giảm tiết tuyến bã
- Tuyến bã tiết ra chất bã có tác dụng chống thấm nước, có tính chất diệt khuẩn, diệt nấm.
- Tuyến bã có ở khắp nơI trên da của cơ thể. Số lượng tuyến bã tính theo cáI trên 10cm2 da phân phối khác nhau tùy theo vị trí:
ở đầu, mặt, ngực, lưng, tầng sinh môn: 400-900 cái.
vùng da còn lại: 100 cái.
Lòng bàn tay bàn chân: không có tuyến bã.
- Tuyến bã có đường kính trung bình từ 50-120 và nằm ở độ sâu 1.2-1.5mm
- Chất bã tiết ra gồm”
Squalene 15% (C30H50) là một hydrocacbon không bão hòa, chỉ có ở da người với nồng độ ổn định. ở người trưởng thành squalene có thể có ở gan và là tiền thân để tổng hợp cholesterol.
Triglyceride: 60% là este của glycerin và các axit béo chuỗi dài, cires: 25% là những este đơn và kép của axit béo chuỗi dài cũng như este cholesterol được tổng hợp.
Ngoài da có thêm lipit gốc thượng bì từ những sterol tự do, sterol este hóa và triglyceride.
Cholesterol + Triglycerid + Cries sẽ tạo thành lipit da bề mặt, nhưng mức độ lipit da bề mặt khác nhau tùy từng vị trí của cơ thể.
Ví dụ:

Trên một thể địa nhất định nào đấy sau khi hút chút chất bã thời gian phúc hồi cũng rất khác nhau (T: thời gian trung bình).
ở bệnh nhân trứng cá sau 1/3T
vảy nến sau 1/2T
Biểu đồ tốc độ táI lập lipit da ở một số bệnh da liễu theo thời gian
- Phương pháp xác định chất bã nhờn.
+ Phương pháp sắc ký khí (sắc ký giấy) tương đối khó, ở Việt Nam chưa có nơI nào làm.
+ Phương pháp ding giấy cuốn thuốc lá: theo Strauss và Pochi.
Cách làm như sau:
Bước 1: địa điểm vùng da trán, ding một miếng gạc sấy khô lau nhiều lần cho sạch.
Bước 2: lấy một tâm băng dính khoét một lỗ hình vuông mỗi cạnh 2,5cm dán vào vùng da trán vừa lau để lộ da ở giữa.
Bước 3: lấy giấy cuốn thuốc lá xếp chồng lên vùng da hở 4-5 tờ; lấy một lớp gạc xốp lớn kích thước giấy cốn thuốc lá phủ lên trên, sau lấy băng quấn quanh đầu vùng giấy thuốc lá và gạc xốp. Mục đích để áp sát da hở ở trên (2,5*2,5).
Bước 4: để giấy sau 15 phút thì lấy 4-5 tờ giấy thuốc lá ra, rồi lại làm lại một lần nữa bằng 4-5 tờ giấy khác cũng để sau 15 phút để lấy cho bằng hét chất bã đang tiết.
Bước 5: lấy giấy cuốn thuốc lá của lần 2, rửa bằng este. Sau đó lại lấy giấy để tiếp vào vùng da hở đó để trong 3 giờ.
Chiết xuất: từ giấy cuốn thuốc lá đó bằng cách rửa este nhiều lần, cho bốc hơI ete, lấy cáI còn đọng lại đưa lên cân tiểu ly cân chính xác để xác định khối lượng chất bã.
- Nguồn gốc lipit bề mặt da.
Xác định được 2 nguồn gốc: chính là ở tuyến bã, phụ nằm trong thượng bì.
Thành phần: Nguồn gốc:
Photpholipit Thượng bì
Sterol Thượng bì
Axit béo tự do Tuyến bã + thượng bì
Triglycerid Tuyến bã + thượng bì
Cires Tuyến bã
Sterol este Thượng bì
Squalene Tuyến bã
+ Thành phần chất bã của tuyến bã:
Chủ yếu là axit béo dưới dạng este hỗn hợp không có axit béo dạng tự do. Triglycerid, cires được tuyến bã tiết ra theo chu kỳ 8-10 ngày ở người trẻ còn ở người già 20-30 ngày. Chất bã tiết ra tích tụ ở bề mặt của da, cùng với một số thành phần khác của da như mảng tế bào sừng, các vi sinh vật (đó là propionibacteium acnes, tụ cầu, pityrosporum ovales), nước và các hợp chất tan trong nước tạo thành.
+ Chất bã của thượng bì:
Tế bào thượng bì cũng đào thảI liên tục. Một số chất của tế bào sừng gồm có:
- Sterol chủ yếu là cholesterol tự do hoặc cholesterol este hóa bởi các axit béo chuỗi dài.
- Triglycerid chịu tác động của men lipaza (của các vi khuẩn bề mặt da tiết ra) hoặc men esteraza do việc sừng hóa giảI phóng ra.
- Các vết glycogen hoặc photpholipit ở màng tế bào.
+ Các yếu tố tác động ảnh hưởng đến lipit bề mặt da.
Bảng phân bố lipit của da theo vị trí.
Biểu đồ chế tiết lipit theo lứa tuổi.
Nhận xét: Vài ngày sau khi sinh có đợt chất bã tăng do chất bã trẻ được hoạt hóa bởi androgen của mẹ qua đường nhau thai.
Tuyến bã tăng tiết ở tuổi hoạt động sinh dục mạnh (26-40 tuổi).
Tuyến bã giảm tiết ở tuổi 50 đối với nữ; 60-70 đối với nam.
- ảnh hưởng của nội tiết tố.
+ Androgen cả ở nữ cũng có: có chúc năng điều hòa chúc phận tiết bã.
+ Ostrogen (nội tiết tố sinh dục nữ): uống ostrogen giảm tiết chất bã, giảm kích thước tuyến bã. Muốn có tác dụng đáng kể, nam phảI dùng liều rất cao dẫn đến hậu quả nam thành nữ hóa.
Đối với nữ: liều thấp hơn nam dẫn đến giảI tiết chất bã nhưng so với liều sinh lý cũng rất cao nên không vận dụng được.
+ Testosterol: tiêm đối với nam ảnh hưởng tới tiết bã, đối với nữ tác dụng vừa phải nhất thời.
Thực tế tốt nhất là trong là trong điều trị không nên dùng nội tiết tố sinh dục để giảI quyết bệnh trứng cá.
Chu kỳ kinh nguyệt 1-4 5-8 9-12 13-16 17-20 21-24 25-28
Biểu đồ chế tiết chất bã theo chu kỳ kinh nguyệt.
(Biểu đồ của Burton)
Biểu đồ tiết bã theo chu kỳ kinh nguyệt (biểu đồ của Agache).
Biểu đồ tăng giảm tiết chất bã theo nhịp sinh học (nhịp ngày và đêm).
- ảnh hưởng của chế độ ăn uống.
+ Ăn chế độ nghèo năng lượng, nghèo calo thì giảm tỷ lệ tiết chất bã với tất cả các thành phần (trừ squalene).
+ Có nhiều thay đổi sinh hóa xảy ra trong khi nhịn ăn đặc biệt là hạ insulin máu có vai trò trong giảm lipit.
+ Ăn nhiều chocolat, bơ gây tăng tiết chất bã.
HẤP THU QUA DA
1, Cơ sở giảI phẫu của sự hấp thu qua da (HTQD).
Lớp sừng, lớp gai , các tế bào lướp đáy và nhú bì là những màng tổng hợp mà một chất phảI đI qua để vào mạch máu.
Lớp bì nông rất nhiều mạch máu nên có rất ít phân tử chất có thể khuếch tán sâu hơn.
Vai trò chủ yếu của lớp sừng được biết từ lâu trong việc hấp thu qua da.
Lớp sừng trong trạng tháI bình thường có ngậm nước một phần (15-20%), chủ yếu ở nội bào và lớp sừng chứa khoảng 20% lipit do đó các chất tan trong mỡ hoặc tan trong nước có thể đI qua được.
Có 3 đường đI qua lớp sừng:
+ Kẽ gian bào.
+ Tế bào sừng
+ Phần phụ của da (xem như một kiểu đoản mạch).
2. Cơ chế của HTQD.
Vận chuyển qua lớp sừng.
Thực hiện làm 2 pha:
+ Thời kỳ tiềm tàng: trong thời kỳ này, lớp sừng ngấm chất: luồng chảy tăng dần
+ Thời kỳ cân bằng: thời kỳ này kéo dài chừng nào chất ngấm còn có đủ số lượng ở trên da và còn được hệ tuần hoàn hấp thu: luồng chảy hằng định (không thay đổi). Tính chất quan tọng của sự hấp thu trong pha này phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau.
- Nồng độ dung dịch áp vào lớp sừng.
- Bề dày của lớp sừng.
- Độ hòa tan tương đối của dung dịch trong lớp sừng (bôI vào một chỗ phảI lan tỏa ra).
Ví dụ : Iod
2.1. Nồng độ của dung dịch: theo định luật Fick:
Định luật: Sự khuếch tán của một chất qua một màng bán thâm thì tỷ lệ thuận với sự khác nhau của nồng độ ở bên này và bên kia màng.
Js : luồng chảy; kp: hằng số thấm (cm/s).
: là sự khác nhau của nồng độ ở 2 bên màng (mol/cm3).
2.2. Bề dày của lớp sừng:
Js (luồng chảy) qua màng bán thấm tỷ lệ nghịch với bề dày của màng đó.
2.3. Độ hòa tan của yế tố thấm trong lớp sừng:
Nếu một chất đặt lên da dễ hòa tan trong lớp sừng hơn trong dung môI của nó thì nồng độ của chất này trong các lớp nông của lớp sừng sẽ cao hơn nồng đọc ủa chất đó trong dung môi.
Ví dụ: dùng iod đặt lên da dễ hòa tan trong lớp sừng hơn trong dung môI của nó.
Hệ số phân chia (hoặc chia sẻ) Km giữa dung môI và lớp sừng:
Cm: nồng độ của chất trong lớp sừng.
Cv: nồng độ của chất trong dung môi.
Km (hệ số phân chia) có liên quan giữa Cm và Cv. Qua đó tính được Cm để dùng nồng độ thuốc cho thích hợp.
Nồng độ trong các lớp sâu của lớp sừng rất thấp vì chất đó phảI đI qua nhiều lớp do đó luồng chảy liên quan đến sự khác nhau của nồng độ giữa lớp nông và lớp sâu của lớp sừng. Biểu thị bằng công thúc sau:
Qua đây ta thấy hằng số thấm Kp không phụ thuộc vào nồng độ mà chỉ tính đến các đặc điểm của dung dịch và màng. Kp thay đổi rất lớn tùy thuộc vào tính chất hóa học và chất mang được sự dụng.
Ví dụ: triamcinolone thâm nhập và tác động 100 lần kém hơn so với acetonide de triamicinolone do thay đổi hệ số chia sẻ (Km) và hằng số khuếch tán.
2.4. Hằng số khuếch tán:
Dm diễn đạt sự di động của một chất trong một môI trường biểu thị bằng cm2/sec. Người ta xác định được hằng số khuếch tán, hằng số thấm của một số chất, ví dụ: hằng số thấm của H2O = 5 x 10-10 cm2/sec
Cồn tuyệt đối/ H2O = 8 x 10-13 cm2/sec
3. Những yếu tố ảnh hưởng đến hấp thu qua da.
3.1. Tuổi đời:
Da trẻ em dễ thấm hơn da người lớn. Đối với trẻ em phảI tính toán, nồng đội thuốc thích hợp.
3.2. Tuần hoàn ở trung bì:
Nếu có co mạch ở trung bì thì sự hấp thu sẽ bị hạn chế. Ví dụ bôI corticoid.
3.3. Vùng da:
Mỗi vùng dâ có sự hấp thu khác nhau.
Hấp thu nước ở lòng bàn tay, bàn chân cũng bằng các vùng khác.
3.4. Trạng tháI ngậm nước của lớp sừng:
Nếu một lớp sừng ngậm nước so với một lớp sừng không ngậm nước thì đội hấp thu thuốc cũng khác nhau. Chỗ nào ngậm nước thì hấp thu nhạnh hơn vì vậy coa phương pháp băng kín (ví dụ muốn bôI một thuốc ngấm sâu. mạnh thì cần bôI thuốc rồi băng kín lại). Đối với steroid, nếu băng kín lại thì sự hấp thu tăng lên gấp 100 lần so với bình thường. BôI thuốc rồi che phủ bằng một lớp Polyetylen trong điều trị dày sừng.
3.5. Nhiệt độ:
Trong điều kiện sinh lý bình thường sự hấp thu của da ít chịu ảnh hưởng của nhiệt độ, tuy nhiên nếu băng kín lại nhiệt độ tại chỗ có thể tăng lên vài độ dẫn đến tăng hấp thu.
3.6. Trạng tháI của da:
Sự toàn vẹn của da là yếu tố cốt yếu để đảm bảo cho da hấp thu bình thường.
Nếu tổn thương ở da như viêm tấy, trớt loét, chảy nước dẫn đến sự hấp thu tăng lên. Da dày sừng, liken hóa thì hấp thu giảm.
Trong điều trị: Những vùng viêm tấy, trớt loét, chảy nước phảI dùng dung dịch nồng độ thấp. Ngược lại vùng da liken hóa phảI dùng nồng độ cao và băng kín.
3.7. Trọng lượng phân tử của các tác nhân thâm nhập:
Những chất phân tử lớn khuếch tán xâm nhập khó hơn những chất phân tử nhỏ. Ví dụ: a.benzoic được hấp thu 200 lần mạnh hơn so với a.hippuric (tức glycuronat benzoic).
3.8. Vai trò của tá dược:
Tá dược là chất mang hoạt chất nào đó của thuốc. Tác dụng của thuốc phụ thuộc vào 3 yếu tố sau.
+ Lượng hoạt chất
+ Tá dược
+ Cấu trúc da từng vùng
Tá dược ảnh hưởng nhiều đến sự hấp thu của thuốc vào da.
3.9. Các chất làm tăng sự hấp thu:
+ Các chất làm giảm độ căng bề mặt ( axit salicylic, ure, hexachlorophene..)
+ Các chất hòa tan chất hữu cơ (methanol, ete, acetone..).
MỐI LIÊN QUAN GIỮA CÁC HOCMON, VITAMIN VÀ DA
- Liên quan giữa hóc môn và da.










