Trang chủ Thông tin y khoa Thông tin y khoa Nghiên cứu tác dụng hạ huyết áp của bài thuốc HA-02 trân động vật thực nghiệm

Nghiên cứu tác dụng hạ huyết áp của bài thuốc HA-02 trân động vật thực nghiệm

T6, 09/10/2020

TÓM TẮT

Mục tiêu: nghiên cứu tác dụng hạ huyết áp (HA) của thuốc HA-02 nhằm tìm hiểu cơ chế gây hạ HA của thuốc và đánh giá hiệu quả hạ HA của thuốc trên mô hình chuột gây tăng HA. Phương pháp: nghiên cứu tiến hành trên 2 mô hình tiếp lưu tai thỏ cô lập theo phương pháp của Kracop, tiếp lưu trên hệ mạch ếch theo phương pháp của Trendlenbourg, đồng thời xây dựng mô hình tăng HA trên chuột nhắt trắng và đánh giá hiệu quả hạ HA của thuốc HA-02 trên mô hình này. Kết quả: thuốc HA-02 có tác dụng giãn mạch tai thỏ cô lập và hệ mạch ếch. Làm tăng nồng độ NO và Prostaglandin E2 và giảm Triglycerid, Cholesterol trong máu ngoại vi chuột tăng HA.Thuốc có tác dụng hạ HA trên chuột tăng HA đạt 62,7 %. Kết luận: thuốc HA-02 có tác dụng giãn mạch hạ HA thông qua tăng nồng độ NO và prostaglandin E2.

* Từ khoá: Bệnh tăng huyết áp; Hạ huyết áp; Thuốc HA-02; Động vật thực nghiệm.

Study of Hypotensive Effects of Drugs HA-02 Experimental Animals

 

Summary

Objectives: To stady the hypotensive mechanism of HA-02 drug and to evaluate its effects on hypertensive mice. Subjects and methods: The research uses two continuously independent models: on the rabbit’s ears based on the method of  Kracop and on the frog’s vascular system according to the method of Trendlenbourg, thereby constructs the model of hypertension on white mice and examine the effects of HA – 02. Results: HA-02 takes the effect of vasodilation on rabbit’s ears and frog’s vascular system; raising the level of NO, prostaglandin E2, reducing triglyceride and cholesterol in peripheral blood of hypertensive mice. The hypotensive effect of HA-02 on hypertensive mice is 62,7% . Conclusion: HA-02 causes reducing the blood pressure by increasing NO and prostaglandin E2.

* Keywords: Hypertension disesse; Hypotension; HA-02 drug; Experimental animals.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng HA là một bệnh tim mạch, mạn tính, phổ biến nhất trên thế giới và là một bệnh nguy hiểm bởi tỷ lệ tử vong cao và để lại những di chứng nặng nề như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim…ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và trở thành gánh nặng về kinh tế cho gia đình người bệnh và xã hội.

Từ lâu

* Bệnh viện Quân y 103

, các nhà khoa học trong nước và trên thế giới quan tâm nghiên cứu tìm hiểu cơ chế bệnh sinh và phát triển các loại thuốc có hiệu quả trong điều trị tăng HA và các biến chứng của tăng HA, hiện nay đây vẫn là vấn đề cấp thiết. Thực hiện phương châm kết hợp hai nền y học, Bộ môn Khoa YHCT,  Bệnh viện Quân y 103 trên cơ sở biện chứng luận trị theo lý luận của YHCT về nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của bệnh tăng HA, đồng thời vận dụng kết quả nghiên cứu theo y học hiện đại về tác dụng dược lý của từng vị thuốc đã xây dựng bài thuốc “HA-02” gồm 15 vị thuốc Đông dược để điều trị bệnh tăng HA. Bài thuốc có tác dụng bình can tiềm dương, tư bổ can thận âm, hoạt huyết trừ đàm và lợi thủy.

Để tìm hiểu một cách có khoa học và đầy đủ về tác dụng điều trị bệnh tăng HA của thuốc HA-02, chúng tôi tiến hành đề tài nhằm: Đánh giá hiệu quả hạ HA của thuốc HA-02 trên mô hình chuột gây tăng HA.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Nguyên liệu, phương tiện và đối tượng nghiên cứu

*Đối tượng nghiên cứu

- Chuột nhắt trắng: 80 con dòng swiss, trọng lượng 20 ± 5g/con.

- Thỏ: 20 thỏ trưởng thành, trọng lượng từ 1,8kg - 2,3kg/con.

- Ếch trưởng thành: 30 con có trọng lượng 100-120g/con.

Tất cả động vật nghiên cứu đều khỏe mạnh, ở cả hai giống, được nuôi trong điều kiện thí nghiệm tại Bộ môn Sinh lý-Học viện quân y.

* Nguyên liệu nghiên cứu

- Thành phần thuốc “HA-02”

Thạch quyết minh (Concha Haliotidis) 20g, Câu đằng (Ramulus cum Uncariae Uncis) 20g,Thiên ma (Rhizoma Gastrodiae) 15g, Bạch thược (Radix Paconiae alba) 15g, Đương quy (Radix Angelicae sinensis) 15g, Xuyên khung(Rhizoma chuanxiong) 12g, Ngưu tất (Radix Achyranthis bidentatae) 12g, Đại hoàng(Rhizoma Rhei) 06g, Trạch tả (Rhizoma lismatis) 12g, Ích mẫu (Herba Leonuri) 20g, Bình vôi (Stephania glabra) 12g, Đỗ trọng (Cortex Eucommiae) 15g, Chỉ xác (Fructus Citri aurantii) 15g, Tang ký sinh (Ramulus Lorantoran parasiticus) 15g, Đan sâm (Radix Salviae militiorrhizae) 20g.

- Dạng thuốc sử dụng: cao đặc tỷ lệ 2/1

- Thuốc được bào chế tại Xí nghiệp dược phẩm TW1, đạt tiêu chuẩn dược điển Việt nam IV, do Khoa dược Bệnh viện Quân y 103 cung cấp.

* Phương tiện và trang thiết bị dùng trong nghiên cứu

- Máy xét nghiệm  huyết học Coulter LH 780,  sinh hóa AU5800 của hãng Beckman Coulter

- Hệ thống Powerlab, Cân điện tử.

2. Phương pháp nghiên cứu

Được nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang có đối chứng.

Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc lên cơ trơn động mạch

Nghiên cứu được tiến hành tại Khoa sinh lý – HVQY

* Ảnh hưởng của thuốc lên cơ trơn động mạch tai thỏ: nghiên cứu được tiến hành tại Bộ môn Sinh lý, Học viện Quân y.

Đánh giá thông qua thí nghiệm tiếp lưu trên tai thỏ cô lập theo phương pháp của Kracop: 20 tai thỏ cô lập khỏi cơ thể, rửa sạch máu trong các mạch máu bằng dung dịch Ringer, chia thành 2 nhóm: Nhóm chứng truyền dung dịch Ringer (10 tai), nhóm thử truyền dung dịch thuốc 0.05% (10 tai) với thể tích dịch 500ml, ở độ cao 100cm, tốc độ 20 giọt/phút. Đếm số giọt dịch chảy ra từ 2 tĩnh mạch vành tai thỏ trước và trong khi truyền từng loại dịch trong thời gian 3 phút tại các thời điểm: xuất phát, sau 5, 15, 30, 60 và 90 phút và sau khi truyền lại dung dịch Ringer lần 2.

So sánh với lượng dịch chảy ra ở lô chứng. Nếu số giọt chảy ra ở 2 tĩnh mạch vành tai thỏ ở lô thử tăng so với lô chứng là giãn mạch, số giọt dịch giảm là co mạch.

* Ảnh hưởng của thuốc lên hệ mạch ếch

Đánh giá thông qua thí nghiệm tiếp lưu trên hệ mạch ếch theo phương pháp của Trendlenbourg: Đặt một ống Potylen vào động mạch chủ và một Canuyn thủy tinh vào tĩnh mạch chủ dưới ếch, rửa sạch máu bằng dung dịch Ringer. Ếch  chia làm 2 nhóm: nhóm truyền dịch thuốc 0,05%  (15con), nhóm truyền dịch Ringer (15con), với thể tích dịch 500ml,ở độ cao 100cm, tốc độ 20 giọt/phút. Đếm số giọt dịch chảy ra từ  tĩnh mạch trong thời gian 3 phút tại các thời điểm: xuất phát, sau 5 phút, 15 phút, 30 phút, 60 phút, 90 phút và sau khi truyền lại dung dịch Ringer lần 2.

So sánh với lượng dịch chảy ra ở lô chứng. Nếu số giọt chảy ra ở  tĩnh mạch tăng so với chứng là giãn mạch, số giọt giảm là co mạch.

* Tác dụng của thuốc HA-02 trên mô hình chuột  tăng huyết áp.

- Mô hình chuột tăng huyết áp thực nghiệm

Nguyên lý gây mô hình được xây dựng dựa trên sự kết hợp của nhiều mô hình đơn lẻ: sử dụng chế độ ăn giàu chất béo (Yamakawa, 1995), uống nước muối trường diễn (Rathod, 1997) và sử dụng corticoid (Seyle, 1957).[2,4,5]

68 con chuột nhắt trắng dòng swiss có trọng lượng 20 ± 5g/con được chia làm 2 lô:

+ Lô chứng: 18 chuột khỏe mạnh, được nuôi với chế độ ăn bình thường bằng thức ăn chuẩn do Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương (VSDTTW)cung cấp, uống nước sạch.

+ Lô gây tăng HA: 50 chuột được: nuôi bằng viên thức ăn được tạo bởi cám gạo (60%), mỡ lợn (30%), lòng đỏ trứng, sữa béo, lạc nhân (10%), uống nước NaCl 2% thay cho nước thông thường .Tiêm bắp thuốc K–cort với liều 50mg/kg/lần x 2 lần/tuần.

Sau 8 tuần, tiến hành cân đo trọng lượng và đo HA ở cả 2 nhóm bằng phương pháp đo gián tiếp ở đuôi chuột qua đầu đo áp lực của hệ thống Powerlab: Trước khi đo, chuột bị bỏ đói trong 18 giờ, gây mê bằng Nembuthal 50mg/kg, cố định đuôi chuột trong sensor nhận cảm áp lực của hệ thống Powerlab. Tín hiệu được thu thập và xử lý bởi phần mềm chuyên dụng Labchart (Hoa Kỳ). Chuột được chẩn đoán THA khi huyết áp tâm thu ( HATT) ≥ 140mmHg và hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90mmHg.

Tiếp tục nuôi chuột khỏe mạch và số chuột tăng HA trong thời gian 30 ngày bằng chế độ ăn bình thường và uống nước sạch. Sau đó lấy máu để định lượng Cholesterol toàn phần, triglycerid. So sánh kết quả với chuột khỏe mạnh, chuột tăng HA không được điều trị và chuột tăng HA được uống thuốc HA-02.

* Tác dụng của thuốc trên mô hình chuột tăng huyết áp thực nghiệm: Được nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang có đối chứng.

Thiết kế nghiên cứu: chia chuột thành 3 lô gồm 2 chứng và 1 lô thử, mỗi lô 18 con.: Lô chứng 1gồm 18 chuột khỏe mạnh. Lô chứng 2 gồm 18 chuột THA. Lô thử gồm 18 chuột THA, cho uống thuốc HA-02, với liều 54g/kg/ngày. Thuốc thử được đưa thẳng vào dạ dày chuột bằng kim cong đầu tù vào các buổi sáng từ 8-10 giờ, 1 lần/ngày x 30 ngày. Chuột đối chứng và chuột thí nghiệm được nuôi trong cùng một điều kiện (nhiệt độ môi trường 25˚C, độ ẩm không khí 80-90% và cùng một chế độ dinh dưỡng). Thời gian theo dõi và đánh giá 30 ngày. Các chỉ tiêu theo dõi :

- Ảnh hưởng của thuốc lên cân nặng: chuột được cân bằng cân điện tử, 1 lần/tuần. So sánh chỉ số cân nặng trước và sau điều trị.

- Tác dụng hạ huyết áp của thuốc: Sau 30 ngày uống thuốc, tiến hành đo huyết áp chuột ở cả ba nhóm bằng phương pháp đo gián tiếp ở đuôi chuột. Kết quả được so sánh với chuột đối chứng khỏe mạnh không tăng huyết áp và chuột tăng huyết áp không được uống thuốc.

- Tác dụng của thuốc lên chuyển hóa lipid máu: Sau 30 ngày uống thuốc, tiến hành lấy máu, định lượng cholesterol và triglycerid trong huyết tương trên hệ thống xét nghiệm hoá sinh tự động tại khoa Sinh hóa, Bệnh viện 103, Học viện Quân y. Kết quả được so sánh với chuột đối chứng khỏe mạnh và chuột tăng huyết áp nhưng không được uống thuốc.

- Tác dụng của thuốc lên các chất gây giãn mạch NO và Prostaglandin E2: Định lượng nồng độ NO, Prostaglandin E2trong máu ngoại vi chuột bằng các bộ kit thương phẩm vào ngày thứ 30 của đợt điều trị.

* Xử lý số liệu:

Phân tích và xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê y học, sử dụng phần mềm SPSS 20.0. So sánh các kết quả trước sau điều trị theo từng cặp bằng kiểm định T-test.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

1. Ảnh hưởng của thuốc lên thành mạch

 

Thí nghiệm tiếp lưu trên tai thỏ cô lập nhằm đánh giá tác dụng trực tiếp của thuốc HA-02 lên cơ trơn thành mạch vì tai thỏ đã được cô lập khỏi cơ thể. Đồng thời đánh giá tác dụng gián tiếp của thuốc trên hệ mạch thông qua thí nghiệm tiếp lưu trên hệ mạch cơ thể ếch. Trong thí nghiệm tiếp lưu trên tai thỏ cô lập, thấy ở nhóm truyền dịch thuốc, lượng dịch chảy ra từ hai tĩnh mạch rìa tai thỏ tăng rõ rệt so với nhóm truyền dịch Ringer trong suốt 90 phút thí nghiệm (bảng 3.1) sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Trong thí nghiệm tiếp lưu trên hệ mạch cơ thể ếch, lượng dịch chảy ra từ hệ mạch ếch ở nhóm truyền dịch thuốc, tăng rõ rệt từ phút thứ 15 cho đến phút thứ 90 của thí nghiệm, trong khi đó ở nhóm truyền dịch Ringer lượng dịch chảy ra có xu thế giảm (bảng 3.2). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Điều này chứng tỏ thuốc HA-02 có tác dụng làm giãn cơ trơn thành mạch thỏ và ếch.

2. Tác dụng của thuốc HA-02 trên  mô hình chuột tăng HA

* Kết quả Tạo mô hình chuột tăng HA

- Thay đổi trọng lượng chuột

Trước thí nghiệm, trọng lượng chuột ở 2 nhóm không có sự khác biệt (p>0,05). Sau 8 tuần thấy ở nhóm chuột nuôi theo chế độ giàu chất béo có độ tăng trọng cao hơn so với chuột nuôi bằng thức ăn thường. Cụ thể ở lô nuôi bằng thức ăn thường trọng lượng của chuột tăng 11.41% trong khi đó chuột ở lô gây THA nuôi bằng thức ăn giàu chất béo có khối lượng lớn hơn nhóm chứng là 4,5g tương đương tăng 180%. Như vậy  chuột được ăn thức ăn giàu năng lượng có sự tăng trọng rõ rệt so với nhóm chứng sau 8 tuần thí nghiệm (p<0,01)

- Thay đổi huyết áp sau 8 tuần gây tăng HA

Sau 8 tuần thực hiện mô hình tăng HA, chuột ở nhóm mô hình có biểu hiện tăng HA rõ rệt so với nhóm chứng với HATT trung bình đạt trên 140mmHg (n = 40/50).

- Thay đổi Triglycerid và Cholesterol sau 8 tuần gây tăng HA

So sánh, hàm lượng Triglycerid và Cholesterol trong huyết tương chuột ở nhóm gây THA với nhóm chứng thấy chuột ở nhóm gây THA có hàm lượng Triglycerid và Cholesterol cao hơn so với nhóm chứng. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P < 0,05.

Như vậy sau 8 tuần thực hiện mô hình tăng HA, chúng tôi đã taọ được 40/50 chuột có HATT trung bình > 140mmHg. Ở nhóm chuột tăng HA chúng tôi thấy chuột đều có biểu hiện tăng cân, hàm lượng Triglycerit và Cholesterol trong huyết tương ở nhóm này cũng cao hơn so với nhóm chứng (p< 0,05).Chuột không có tăng HA bị loại bỏ, không được đưa vào nghiên cứu tiếp theo.

- Ảnh hưởng của thuốc lên huyết áp động mạch chuột tăng HA

So sánh trong từng lô giữa các thời điểm và so sánh giữa các lô ở cùng 1 thời điểm thấy HA chuột ở nhóm THA được uống thuốc sau 30 ngày điều trị giảm so với nhóm chột THA nhưng không được điều trị, sự thay đổi có ý nghĩa thống kê (P2-3 <

0,05). So với nhóm chuột có HA bình thường, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P1-3 > 0,05). Tuy nhiên thống kê tỷ lệ chuột THA sau điều trị, HA trở về bình thường chỉ đạt được 62.7%. Ở lô chứng và lô THA nhưng không được điều trị, chỉ số huyết áp không thay đổi so với trước thí nghiệm với P > 0,05

Như vậy, thuốc HA-02 với liều 54g/kg/ngày cho chuột uống liên tục trong 30 ngày có tác dụng hạ HA trên mô hình chuột gây tăng HA đạt 62,7%

-  Ảnh hưởng của thuốc lên chuyển hóa Lipid:

Sau 3 tuần điều trị ở nhóm chuột gây tăng HA được điều trị thuốc, có hàm lượng  Triglycerid và Cholesterol thấp hơn so với nhóm tăng HA không được điều trị, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P2-3 < 0,05). Như vậy thuốc HA-02 có tác dụng làm giảm Triglycerid và Cholesterol máu trên chuột thực nghiệm.

- Ảnh hưởng của thuốc lên NO và PGE2:

Để tìm hiểu cơ chế gây giãn mạch của thuốc chúng tôi tiến hành thí nghiệm định lượng các chất gây giãn mạch có nguồn gốc nội môi là NO và Prostaglandin E2 trong máu ngoại vi chuột. Kết quả cho thấy sau 3 tuần uống thuốc HA-02, nồng độ NO và Prostaglandin E2 trong máu ngoại vi chuột ở nhóm uống thuốc HA-02 cao hơn hẳn so với nhóm chứng và nhóm THA không được điều trị (P2-3 < 0,01; P1-3 < 0,01). Điều đó chứng tỏ thuốc HA-02 có tác dụng làm tăng tổng hợp NO và Prostaglandin E2 của tế bào nội mạc động mạch.

KẾT LUẬN

Bước đầu đã xây dựng được mô hình THA trên chuột nhắt trắng đạt yêu cầu trong nghiên cứu thực nghiệm. Thuốc HA-02 có một số tác dụng dược lý trên động vật thực nghiệm có thể ứng dụng điều trị tăng huyết áp:

- Dung dịch thuốc 0,05% làm giãn mạch tai thỏ cô lập và hệ mạch ếch.

-  Với liều 54g/kg cân nặng, thuốc có tác dụng:

+ Làm tăng nồng độ NO và Prostaglandin E2 là chất giãn mạch có nguồn gốc nội môi trong máu ngoại vi chuột THA

+ Làm giảm Triglycerid và Cholesterol trong máu ngoại vi chuột THA.

+ Làm giảm HA trên chuột THA đạt hiệu quả 62,7%

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

1. Bộ Y tế, Quy chế đánh giá tính an toàn và hiệu lực thuốc cổ truyền, Quyết định số 371/BYT-QĐ, Ngày 12/3/1996

2. Rathod SP, Shah N, Balaraman R., Antihypertensive effect of dietary calcium and diltiazem, a calcium channel blocker on experimentally induced hypertensive rats. Indian Journal of Pharmacology, 29 :99-104 (1997)

3. Seyle H, Bois P., The hormonal production of nephrosclerosis and periarteritisnodosa in the primate. British Medical Journal, 1: 183-6 (1957)

4. Teresa R. Cousins, John M. O’Donnell. Arterial cannulation: A critical review. AANA Journal, August 2004. Vol. 72, No. 4.

5. Yamakawa T, Tanaka S, Tamura K, Isoda F, Ukawa K,Yamakura Y, et al. Wistar fatty rat is obese and spontaneously hypertensive. Hypertension, 25: 146-50 (1995)

 

Bùi Thanh Hà*; Trn Quc Bo*

Hoàng Trung Vinh*; Đoàn Chí Cường*


Dịch vụ thiết kế website wordpress