Ngày 14/4/2023 khoa Truyền nhiễm – Bệnh viện Quân y 103 tiếp nhận người bệnh Nghiêm Thị M, 58 tuổi, nhập viện trong tình trạng sốt cao, ý thức lơ mơ, không tiếp xúc ngôn ngữ, đại tiểu tiện không tự chủ. Theo người nhà kể lại, người bệnh có tiền sử viêm khớp dạng thấp, trước khi vào viện 6 ngày, đột ngột khởi phát sốt cao 38-39 độ C, sốt nóng kèm gai rét, không rõ cơn rét run; đau đầu vùng trán- đỉnh, đau tăng khi có kích thích ánh sáng và âm thanh, đau lan xuyên ra vùng thái dương - chẩm hai bên, đau đầu tăng dần có lúc thành cơn, trong mỗi cơn đau có kèm theo buồn nôn và nôn. Vào ngày thứ 3 của bệnh, người bệnh được điều trị tại bệnh viện đa khoa khu vực bằng kháng sinh, hạ sốt, tuy nhiên đáp ứng kém, ý thức xấu dần, tiếp xúc chậm chạp, đại tiểu tiện không tự chủ. Đến ngày thứ 6 của bệnh được đưa đến cấp cứu tại khoa Truyền nhiễm – Bệnh viện Quân y 103.
Qua thăm khám lâm sàng, làm xét nghiệm máu cơ bản, định hướng ban đầu nghĩ đến viêm màng não - não. Người bệnh được cấy máu, chụp CT-Scanner sọ não, chọc ống sống thắt lưng lấy dịch não tủy làm xét nghiệm thường quy (tế bào, sinh hóa, nhuộm soi, nuôi cấy) và PCR đa tác nhân dịch não tủy. Kết quả xét nghiệm dich não tủy: dịch trong, công thức tế bào1484 tế bào/ mm3, lymphocyte 90%, neutrophil 10%, protein 1,44 g/L, glucose 4,7 mmol/l. Xét nghiệm máu ngoại vi: Bạch cầu 10 G/l, neutrophil 78%,;CRP 2 mg/L. Chụp CLVT sọ não không thấy bất thường.
Người bệnh được chẩn đoán viêm màng não - não do virus, phân biệt với viêm màng não – não do lao và được điều trị ngay bằng acyclovir 10 mg/kg/8h, kháng sinh phòng bội nhiễm, chống phù não. Kết quả xét nghiệm PCR dịch não tủy dương tính với virus varicella zoster, âm tính với lao. Chụp MRI sọ não không thấy hình ảnh tổn thương nhu mô.
Sau ba ngày điều trị, người bệnh hết sốt, tỉnh táo, tiếp xúc được, đỡ đau đầu, đại tiểu tiện bình thường. Sau 2 tuần điều trị, xét nghiệm lại dịch não tủy bình thường, người bệnh tỉnh táo, không sốt, ăn ngủ tốt, được cho ra viện.
Viêm màng não do virus là một tình trạng bệnh lý cấp tính, có tỷ lệ tử vong lên tới 9% - 20 %, tỷ lệ tàn tật và di chứng tâm thần kinh sau xuất cao. Khoảng 40% người bệnh bị viêm não cần nhập viện tại đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU) và 1/4 thở máy xâm nhập để kiểm soát tình trạng hôn mê, co giật hoặc các biến chứng khác.
Virus Varicella-zoster (VZV) là một trong tám loại Herpesvirus được biết được biết là có thể gây nhiễm trùng cho người và là nguyên nhân thứ hai gây viêm màng não – não cấp tính sau virus Herpes simplex (HSV). Nhiễm VZV gây ra hai dạng bệnh khác nhau về mặt lâm sàng: varicella (bệnh thủy đậu) và herpes zoster (bệnh Zona). Nhiễm VZV nguyên phát dẫn đến phát ban mụn nước lan tỏa của bệnh thủy đậu, hoặc bệnh thủy đậu. Sự tái hoạt nội sinh của VZV tiềm ẩn thường dẫn đến nhiễm trùng da cục bộ được gọi là herpes zoster, hoặc bệnh Zona. Tuy nhiên, một số ít nhiễm bệnh có thể phát triển các biến chứng thần kinh nghiêm trọng như viêm màng não - não. Các yếu tố nguy cơ đối với viêm màng não do VZV bao gồm tuổi trên 50 và các tình trạng suy giảm miễn dịch như AIDS, cấy ghép nội tạng, ung thư hoặc liệu pháp điều hòa miễn dịch , một số trường hợp suy giảm miễn dịch nguyên phát hiếm gặp cũng có liên quan đến viêm não do VZV.
Bệnh cảnh lâm sàng của viêm màng não - não do VZV cũng tương tự như các virus gây viêm màng não - não khác. Để chẩn đoán xác định cần làm xét nghiệm phân tích dịch não tủy, chụp MRI sọ não, trong đó PCR dương tính với DNA của VZV trong mẫu dịch não tủy là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán viêm màng não do VZV.
Điều trị đặc hiệu bằng Acyclovir đường tĩnh mạch 10 mg/kg dùng 3 lần mỗi ngày trong 10 – 14 ngày và các điều trị hỗ trợ khác. Điều trị càng sớm càng tốt, điều trị muộn làm tăng nguy cơ tử vong hoặc để lại di chứng thần kinh.
Người bệnh của chúng tôi trên 50 tuổi, có tiền sử viêm khớp dạng thấp điều trị bằng Medrol dài ngày, đây là yếu tố nguy cơ dẫn đến suy giảm miễn dịch và là điều kiện thuận lợi để VZV gây bệnh. Khám lâm sàng cẩn thận, tỉ mỉ có giá trị định hướng, kết hợp vai trò quan trọng của PCR dịch não tủy cho phép chẩn đoán sớm và chính xác. Người bệnh được tiếp cận phác đồ điều trị đúng và sớm nên đã hồi phục và ra viện mà không để lại di chứng.
BS Nguyễn Vũ Trung
Tài liệu tham khảo:
- 1. Quyết định số 5642/QĐ-BYT. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh truyền nhiễm. Bộ Y tế. 31/12/2015.
- 2. Laura Krogh Herlin,et al. Varicella Zoster Virus Encephalitis in Denmark From 2015 to 2019. Clinical Infectious Diseases, Volume 72, Issue 7, 1 April 2021, 1192–1199.
- 3. Sanford guide: Stanford Antimicrobial Safety & Sustainability.












