Nguyễn Văn Phú1,Đặng Phúc Đức1
Hoàng Thị Hà2, Hoàng Thị Lan Anh3
1Bệnh viện Quân Y 103
2Trung tâm Y tế quận Đống Đa
3Trường CĐYT Hà Đông
Nhận phản hồi: Nguyễn Văn Phú (vanphu103b1@gmail.com)
SĐT: 0396254098
TÓM TẮT
Đột quỵ não là một bệnh lý nặng nề và thuộc loại đa tàn tật. Tuy nhiên, tỷ lệ trong cộng đồng có nhận thức đúng về bệnh đột quỵ não còn chưa cao. Bên cạnh công tác tuyên truyền cộng đồng thì tuyên truyền cho người chăm sóc chính có ý nghĩa quan trọng vì đây là đối tượng trực tiếp chăm sóc bệnh nhân. Mục tiêu: Đánh giá kết quả tư vấn về bệnh lý đột quỵ não của người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ não. Phương pháp: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 170 gia đình bệnh nhân đột quỵ. Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, so sánh trước và sau tuyên truyền về mức nhận thức. Kết quả: Hiểu biết đúng về nguy cơ gây tử vong và tàn phế do đột quỵ não tăng lần lượt 59,4% và 49,4%. Nhận thức về thời gian vàng điều trị đột quỵ não tăng từ 27,1% lên 88,8%. Nhận biết ít nhất 1 triệu chứng đúng của đột quỵ não tăng từ 35,9% lên 76,5%. Nhận thức đúng yếu tố nguy cơ và nội dung dự phòng đột quỵ não sau tuyên truyền đều trên 90%.
Từ khóa: người chăm sóc chính, nhận thức về đột quỵ, đột quỵ não.
EFFECTIVENESS OF COMMUNICATION ABOUT STROKE FOR THE MAJOR CAREGIVERS OF STROKE PATIENTS AT MILITARY HOSPITAL 103
SUMMARY
Stroke is a serious and multi-disabling disease. However, the proportion in the community with correct awareness about stroke is still not high. Communication to primary caregivers is important because these are the subjects who directly take care of stroke patients. Aims: Evaluation of the effect of stroke counseling on primary caregivers of stroke patients. Methods: We conducted a study of 170 families of stroke patients. Using cross-sectional descriptive method, compare before and post communication on knownlege level. Results: Correct understanding of the risk of death and disability from stroke increased by 59.4% and 49.4%, respectively. Correct awareness of the golden time of stroke increased from 27.1% to 88.8%. Recognizing at least 1 correct symptom of stroke increased from 35.9% to 76.5%. Correct awareness of risk factors and prevention after propaganda are over 90%.
Keywords: primary caregivers, awareness of stroke, brain stroke
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đột quỵ não (ĐQN) là bệnh lý có tỷ lệ tử vong và tàn phế cao, tác động lớn đến kinh tế, đời sống của gia đình cũng như xã hội. Sự thiếu hiểu biết về bệnh gây nhiều tác hại nghiêm trọng. Việc tuyên truyền, tư vấn nâng cao hiểu biết về bệnh đột quỵ não có ý nghĩa quan trọng. Đặc biệt, người chăm sóc chính bệnh nhân đột quỵ cần được trang bị kiến thức để giảm thiểu tác hại bệnh, giảm nguy cơ tái phát. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu: Đánh giá kết quả tư vấn về bệnh lý đột quỵ não của người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ não
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- 1. Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu: người chăm sóc chính bệnh nhân đột quỵ não; tuổi từ 18 tuổi trở lên; đồng ý tham gia nguyên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: có các hạn chế về sức khỏe, nhận thức.
- 2. Cỡ mẫu và chọn mẫu
Cỡ mẫu toàn bộ người chăm sóc chính đang chăm sóc bệnh nhân đột quỵ não nằm điều trị nội trú tại khoa Đột quỵ Bệnh viện Quân Y 103 từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2021 và thu thập bằng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện. Cỡ mẫu chọn được là 170 người.
- 3. Phương pháp nghiên cứu
* Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, so sánh trước sau
* Công cụ thu thập số liệu: Thu thập số liệu bằng bộ câu hỏi dạng bảng kiểmgồm 2 phần.
Phần 1: thông tin chung của bệnh nhân và người chăm sóc chính (tuổi, giới, nghề,..);
Phần 2: thông tin liên quan đến nhận thức về bệnh đột quỵ.
* Phương pháp thu thập số liệu:
- Tiến hành phỏng vấn và cho điền bảng câu hỏi trong vòng 2 giờ sau khi bệnh nhân nhập viện. Để bệnh nhân tự đọc nội dung và điền thông tin. Với đối tượng khó khăn trong việc đọc - viết thì nghiên cứu viên tiến hành đọc nguyên văn nội dung và hỗ trợ đối tượng nghiên cứu điền thông tin.
- Tổ chức tuyên truyền cho đối tượng nghiên cứu sau khi sàng lọc đầu vào ngay tại khoa Đột quỵ Bệnh viện Quân y 103.
- Khảo sát lại nhận thức của đối tượng nghiên cứu sau tuyên truyền.
* Xử lý số liệu: xử lý phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS phiên bản 22. Mức ý nghĩa thống kê được xác định với p< 0,05.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
- 1. Thông tin chung về người chăm sóc chính
Bảng 1: Đặc điểm tuổi và giới tính của người chăm sóc chính
| Đặc điểm | Số lượng | Tỉ lệ (%) | |
|
Nhóm tuổi |
<40 tuổi | 75 | 44,2 |
| 40 – 60 tuổi | 81 | 47,6 | |
| >60 tuổi | 14 | 8,2 | |
| Giới tính | Nam | 79 | 46,5 |
| Nữ | 91 | 53,5 | |
Những người chăm sóc chính cho bệnh nhân đột quỵ não thuộc nhóm tuổi 40–60 chiếm tỷ lệ cao nhất (47,6%), sau đó đến nhóm dưới 40 tuổi 44,2%, nhóm trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất (8,2%). Người chăm bệnh nhân ĐQN là nữ chiếm cao hơn nam với tỉ lệ (53,5% và 46,5%).
Bảng 2: Trình độ học vấn của người chăm sóc chính
| Trình độ học vấn | Số lượng | Tỉ lệ % |
| Không đi học | 4 | 2,4 |
| Học phổ thông | 88 | 51,8 |
| Cao đẳng/trung cấp | 38 | 22,4 |
| Đại học | 30 | 17,6 |
| Sau đại học | 10 | 5,9 |
Tỉ lệ người chăm sóc chính có trình độ học vấn phổ thông là cao nhất (51,8%), tỉ lệ không đi học chiếm tỉ lệ thấp nhất (2,4%).
Bảng 3. Sự thay đổi nhận thức của NCSC về mức độ gây tử vong, tàn phế do đột quỵ não
| Tỷ lệ NCSC nhận thức đúng | Trước tư vấn (%) | Sau tư vấn (%) | Chỉ số hiệu quả (%) | p |
| ĐQN là nguyên nhân gây tử vong thứ 2 | 21,8 | 81,2 | 272,5 | <0,001 |
| ĐQN là nguyên nhân gây tàn phế thứ 2 | 15,9 | 65,3 | 310,7 | <0,001 |
Sau tư vấn, tỉ lệ NCS biết được nguyên nhân tử vong do đột quỵ não đứng thứ 2 trong các mặt bệnh là 81,2%, nguyên nhân tàn phế do ĐQN đứng số 2 là 65,3%. Sự khác biệt trước và sau tư vấn đều có ý nghĩa thống kê (p <0,05).

Biểu đồ 1. Sự thay đổi nhận thức NCSC về thời gian vàng điều trị đột quỵ não trước và sau tư vấn
Sau tư vấn, tỉ lệ NCSC có nhận thức đúng về thời gian vàng điều trị não <4,5 giờ tăng từ 27,1% lên 88,8%.

Biểu đồ 2. Sự thay đổi hiểu biết của NCSC về triệu chứng nhận biết ĐQN
Sau tư vấn tỷ lệ NCSC biết ít nhất 1 triệu chứng đúng của ĐQN tăng từ 40,6% lên 76,5%, tỷ lệ không biết triệu chứng nào giảm từ 59,4% xuống xuống còn 23,5%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Biểu đồ 3. Sự thay đổi nhận thức đúng của NCSC về yếu tố nguy cơ đột quỵ não
Sau tư vấn, tỷ lệ NCSC chính nhận thức đúng về các yếu tố nguy cơ đều tăng lên trên 90%. Đặc biệt, 100% NCSC hiểu đúng về tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ.
Bảng 4. Sự thay đổi nhận thức của NCSC về nội dung điều trị dự phòng đột quỵ não
| Nội dung nhận thức | Tỷ lệ nhận thức đúng | Chỉ số hiệu quả | p | |
| Trước tư vấn | Sau tư vấn | |||
| Về điều trị dự phòng đột quỵ não | ||||
| Kiểm soát huyết áp | 84,7 | 100 | 18,1 | <0,001 |
| Kiểm soát mỡ máu | 70 | 97,1 | 38,7 | <0,001 |
| Duy trì lối sống lành mạnh | 82,9 | 99,4 | 19,9 | <0,001 |
| Kiểm soát đường máu | 69,4 | 94,7 | 36,4 | <0,001 |
| Về nội dung không phải điều trị dự phòng đột quỵ não | ||||
| Tập yoga, thiền | 10,6 | 45,3 | 327,3 | <0,001 |
| Hạn chế vận động | 49,7 | 85,9 | 72,8 | <0,001 |
Sau tư vấn số NCSC nhận thức đúng về nội dung điều trị dự phòng đột quỵ não đều tăng ở cả bốn nội dung. Sự khác biệt về tỉ lệ NCSC nhận thức đúng về điều trị dự phòng đột quỵ não, trước và sau tư vấn đều có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Biểu đồ 4. Tự đánh giá của người chăm sóc chính về tác dụng việc tuyên truyền bệnh ĐQN
Tỷ lệ NCSC đánh giá việc tuyên truyền bệnh ĐQN rất tốt ( chiếm 88,8%); 10,6% cho rằng tốt và 0,6% đánh giá khá.
BÀN LUẬN
- 1. Đặc điểm người chăm sóc chính
Đa số NCSC cho người bệnh thuộc nhóm dưới 60 tuổi (91,8%), tỷ lệ NCSC trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ thấp (8.2%). Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Văn Lệ và Võ Ngọc Dũng [1, 3]. Trong số NCSC dưới 60 tuổi thì xấp xỉ một nửa có tuổi dưới 40. Đây là đặc điểm thuận lợi để tiến hành tuyên truyền vì lứa tuổi này có khả năng tiếp thu thông tin mới.
Tỷ lệ NCSC có trình độ học vấn từ Trung học phổ thông trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất (51,8%), cao đẳng/trung cấp chiếm 22,4%, tỷ lệ NCSC có không đi học chiếm tỷ lệ thấp nhất (2,4%). Kết quả này có sự khác biệt so với nghiên cứu của Võ Ngọc Dũng với tỷ lệ NCSC có trình độ học vấn THCS chiếm tỷ lệ cao nhất (61,9%) [3]. Điều này có thể do địa bàn nghiên cứu của chúng tôi tiến hành trên địa bàn quận Hà Đông, do đó trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu có sự khác biệt so với các nghiên cứu khác. Với đối tượng có trình độ học vấn từ cấp trung học trở lên sẽ có khả năng tiếp cận, lĩnh hội các thông tin mang tính y học thường thức tương đối tốt.
- 2. Thay đổi nhận thức của NCSC người bệnh đột quỵ não sau tư vấn
Tổ chức Y tế thế giới ghi nhận, đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ
2 trên thế giới, với con số khoảng 6,5 triệu người tử vong mỗi năm; tức trung bình mỗi 6 giây có một ca tử vong do đột quỵ. Đột quỵ còn là nguyên nhân gây tàn phế thứ hai trên thế giới, có hơn 17 triệu ca bệnh mỗi năm. Hiệu quả quá trình tư vấn giúp người chăm sóc chính nhận thức đúng về hậu quả đột quỵ não lên gấp đôi. Điều này sẽ giúp người chăm sóc chính tìm hiểu sâu hơn về các triệu chứng của đột quỵ não.
Trong những hiểu biết về ĐQN, việc nhận biết đúng ít nhất 1 dấu hiệu báo động ĐQN rất quan trọng để phát hiện bệnh kịp thời, tăng hiệu quả cấp cứu – điều trị, làm giảm nguy cơ tử vong và tàn phế do bệnh gây nên. Tăng từ 40,6% lên 76,5% NCSC sau tư vấn đã biết ít nhất đúng 1 triệu chứng. Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu tương tự, 40% biết ít nhất một dấu hiệu trong nghiên cứu ở Anh năm 2004 [4], 50% trong nghiên cứu ở Úc [5] . Hiểu biết về “thời gian vàng” trong của bệnh ĐQN dưới 4,5 giờ tăng từ 27,1% lên 88,8%.
Khi tuổi càng cao, tỉ lệ mắc các yếu tố nguy cơ của ĐQN như bệnh lý tim mạch, đái tháo đường, tăng huyết áp…càng tăng. Quản lý các yếu tố nguy cơ được coi là vấn đề then chốt trong công tác dự phòng ĐQN. Do đó, người chăm sóc chính phải được tư vấn để có kiến thức cơ bản giúp phòng chống bệnh cho bản thân và người bệnh. Sau tư vấn, trên 85% NCSC đã nhận thức đúng các yếu tố nguy cơ của ĐQN. Kết quả này tăng cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng sau can thiệp nhận thức về nguy cơ đái tháo đường từ 1,9% lên 15,9%, béo phì tăng 17% từ 4,2% lên 21,2% [2] cho thấy công tác tư vấn đã có hiệu quả, sự khác biệt trước và sau tư vấn có ý nghĩa thống kê với p<0,001 ở tất cả các yếu tố nguy cơ ĐQN. Chính vì NCSC đã nhận thức được yếu tố nguy cơ nên tỷ lệ xác định đúng nội dung điều trị dự phòng đột quỵ não khá cao (đều trên 94%), nội dung nào không phải dự phòng.
Tư vấn, giáo dục sức khỏe là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến tình cảm, lý trí của con người nhằm làm thay đổi nhận thức, hành vi có lợi cho sức khỏe cá nhân, gia đình và cộng đồng.Việc cung cấp kiến thức hiểu biết về ĐQN cho NCSC qua các hoạt động tuyên truyền, tư vấn của nhân viên y tế Bệnh viện 103 được chính đối tượng nghiên cứu đánh giá cao, 88,8% cho rằng chương trình tư vấn có hiệu quả rất tốt.
KẾT LUẬN
Hiểu biết đúng về nguy cơ gây tử vong và tàn phế do đột quỵ não tăng lần lượt 59,4% và 49,4%.
Nhận thức về thời gian vàng điều trị đột quỵ não dưới 4,5 giờ tăng từ 27,1% lên 88,8%.
76,5% NCSC biết ít nhất 1 triệu chứng đúng của đột quỵ não (tăng 35,9%).
Sau tư vấn tỷ lệ NCSC nhận thức đúng yếu tố nguy cơ và nội dung dự phòng đột quỵ não đều trên 90%.
Công tác tuyên truyền, tư vấn về đột quỵ não được NCSC đánh giá rất tốt với 88,8%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- 1. Nguyễn Văn Lệ; (2012), Thực trạng và các yếu tố liên quan đến công tác chăm sóc phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não đã điều trị tại bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2014, Đại học Y tế Công Cộng Hà Nội.
- 2. Nguyễn Văn Thắng;, Lê Thị Tài; và Nguyễn Thị Bình Vương (2010), "Thay đổi hiểu biết và thực hành về dự phòng đột quỵ não của người cao tuổi tại xã Trường Yên và Lam Điền huyện Chương Mỹ, Hà Nội", Y Học Thực Hành. 09/2010, tr. p. 54-58.
- 3. Võ Ngọc Dũng (2010), Nhu cầu và thực trạng phục hồi chức năng cho người khuyết tật tại nhà trên địa bàn xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh năm 2010, Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng.
- 4. Camille Carroll và các cộng sự. (2004), "Stroke in Devon: knowledge was good, but action was poor", Journal of Neurology, Neurosurgery & Psychiatry. 75(4), tr. 567-571.
- 5. Nanette Stroebele và các cộng sự. (2011), "Knowledge of risk factors, and warning signs of stroke: a systematic review from a gender perspective". 6(1), tr. 60-66.












