TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của lý liệu pháp hô hấp có sử dụng dụng cụ tập thở trên bệnh nhân phẫu thuật lồng ngực tại khoa B12 Bệnh viện quân y 103
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu 50 bệnh nhân đã sử dụng bộ dụng cụ tập thở, kết hợp để điều trị một số bệnh lý tại khoa Phẫu thuật Lồng ngực mạch máu Bệnh viện quân y 103 từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014.
Kết quả: Giới tính: gồm 37 nam, 13 nữ. Giá trị trung bình các chỉ số của chức năng hô hấp đo lần đầu thấp, các chỉ số trung bình ở lần thứ 2 đều tăng hơn so với đo lần đầu và các chỉ số trung bình ở lần thứ 3 là lớn nhất
Kết luận: Sử dụng bộ dụng cụ tập thở có hiệu quả trong việc giúp làm tăng các chỉ số khí phế dung. Cần thực hiện lý liệu pháp hô hấp cho các bệnh nhân chuẩn bị trước và sau phẫu thuật lồng ngực.
Từ khóa: liệu pháp tập thở, dụng cụ tập thở.
ABSTRACT
EVALUATE EFFICACY OF RESPIRATORY THERAPY BY BREATHING TOOLS IN PATIENTS WITH THORACIC SURGERY
Nurse Nguyen Thanh Tung, Tran Xuan Hien
Department of cardiothoracic surgery-Hospital no.103-VMMU
Objectives: Evaluate efficacy of respiratory therapy using breathing tools in patient with thoracic surgery in department of cardiothoracic surgery-Hospital no.103
Methods: study on 50 cases using breathing tools with some disease in department of cardiothoracic surgery-Hospital no.103, from December 2013 to May 2014.
Results: sex (male:37, female:13). The average value indices of respiratory function measured for the first time are low, the average index in the 2nd increased the first and the average index in the 3rd is the largest.
Conclusions: Using breathing tools help increase the respiratory function indices. Needing of respiratory therapy with pre-operation and post- operation patient.
Key words: Breathing therapy, breathing tools
- 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Phẫu thuật lồng ngực là một phẫu thuật lớn, bệnh nhân sau mổ thường có nhiều nguy cơ, tai biến nặng. Mặc dù phẫu thuật nội soi lồng ngực phát triển ngày càng mạnh, hạn chế được phần nào nhược điểm của mở ngực, bệnh nhân vẫn còn phải chịu nhiều nguy cơ, rối loạn đặc thù sau phẫu thuật như tràn máu, tràn khí khoang màng phổi, xẹp phổi, mất áp lực âm khoang màng phổi, đau…Chăm sóc tốt dẫn lưu màng phổi và lý liệu pháp hô hấp là 2 biện pháp quan trọng để giải quyết các rối loạn này.
Lý liệu pháp hô hấp là một can thiệp bắt buộc sau phẫu thuật lồng ngực, có ý nghĩa rất quan trọng để giải quyết các rối loạn sinh lý,giải phẫu bệnh sau mổ, quyết định tới 30 – 50% sự thành công của phẫu thuật. Để lý liệu pháp hô hấp sau mổ đạt hiệu quả tốt, đòi hỏi phải có sự kiên trì, tận tụy của thày thuốc, sự cố gắng và hợp tác cao của bệnh nhân cũng như sự quan tâm chăm sóc, giúp đỡ của gia đình người bệnh ngay từ khi chuẩn bị mổ cho đến khi bệnh nhân ra viện một thời gian sau đó. Nó bao gồm hàng loạt các tác động cơ học trên người bệnh, đòi hỏi một số các biện pháp điều trị phối hợp, liên hoàn để tăng hiệu quả của lý liệu pháp, như là: tâm lý liệu pháp, thuốc giảm đau mạnh, long đờm, khí dung…
Tập thở bằng dụng cụ đã được ứng dụng trong nhiều năm nay, nhưng việc đánh giá hiệu quả của liệu pháp này tại Bệnh viện quân y 103 thì đến nay chưa có báo cáo nào.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục tiêu: “Đánh giá hiệu quả của lý liệu pháp hô hấp có sử dụng dụng cụ tập thở trên bệnh nhân phẫu thuật lồng ngực tại khoa B12 Bệnh viện quân y 103”
- 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu 50 bệnh nhân đã sử dụng bộ dụng cụ tập thở, kết hợp để điều trị một số bệnh lý tại khoa Phẫu thuật Lồng ngực mạch máu Bệnh viện quân y 103 từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bệnh nhân có chỉ định điều trị phẫu thuật can thiệp vào phổi, màng phổi và trung thất.
- Có sử dụng bộ dụng cụ tập thở trước và/hoặc sau mổ theo một giáo án thống nhất.
- Được đo chức năng hô hấp 2 lần trước và sau khi mổ.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Các bệnh nhân không có chỉ định can thiêp phẫu thuật vào phổi, màng phổi hay trung thất.
- Không đo được chức năng hô hấp.
- Không thực hiện được theo giáo án tập thở.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Cách tiến hành nghiên cứu
- Nghiên cứu tiến cứu.
- Đo chức năng hô hấp ít nhất 2 lần
+ Lần 1: Trước hoặc ngay sau khi bệnh nhân sử dụng bộ dụng cụ để tập thở.
+ Lần 2: Sau lần thứ nhất từ 3 – 5 ngày
+ Lần 3: Sau lần thứ hai từ 3 - 5 ngày, hoặc trước khi bệnh nhân ra viện.
- Bệnh nhân được tập thở với cùng một loại dụng cụ tập thở, có giáo án tập thở riêng (theo mẫu) với mỗi bệnh nhân.
2.2.2. Dụng cụ nghiên cứu
- Giáo án tập thở (theo mẫu)
- Bộ dụng cụ tập thở Spiro - Ball

- Máy đo chức năng hô hấp: máy CHESTGRAPH HI-105

2.2.3. Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
Các số liệu được thống kê, lưu trữ và xử lý bằng phần mềm MICROSOFT EXCEL 5.0 và EPI INFO 2000.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Qua bảng 1 chúng tôi thấy rằng bệnh chấn thương ngực, bệnh lý phổi màng phổi có số lượng nhiều nhất, và nam giới mắc bệnh nhiều hơn nữ giới. Bệnh tim mạch chỉ có 2/50 trường hợp (chiếm 4%)

Qua bảng 2 chúng tôi thấy, giá trị trung bình các chỉ số của chức năng hô hấp đo lần đầu thấp. Có nhiều nguyên nhân như bệnh nhân bị chấn thương hay sau mở ngực những ngày đầu tiên thường đau nhiều, ảnh hưởng đến chức năng hô hấp; có nhiều bệnh nhân nhược cơ chưa mổ, chức năng hô hấp hạn chế không đảm bảo để gây mê.

Qua bảng 3 và bảng 4, chúng tôi thấy rằng: các chỉ số hô hấp có sự thay đổi rõ rệt ở lần đo thứ 2. Các chỉ số trung bình ở lần thứ 2 đều tăng hơn so với đo lần đầu. Tuy nhiên có nhiều trường hợp đo lần đầu không những không tăng mà còn giảm đi. Có lẽ là do bệnh nhân sau mổ trong những ngày đầu tiên còn đau nhiều, hạn chế chức năng hô hấp.

Qua bảng 5 và bảng 6, chúng tôi thấy rằng: các chỉ số hô hấp có sự thay đổi rõ rệt ở lần đo thứ 3. Các chỉ số trung bình ở lần thứ 3 đều tăng hơn so với đo lần đầu và lần thứ hai. Lúc này bệnh nhân đã tập thở được một thời gian nhất định, đồng thời với việc bệnh lý đã được điều trị tương đối ổn định và chuẩn bị ra viện,
- 1. BÀN LUẬN
1.1. Sự cần thiết phải thực hiện lý liệu pháp hô hấp
- Nguyên tắc thực hiện lý liệu pháp hô hấp: tăng dần mức độ mạnh – tích cực theo thời gian, biện pháp sau bao gồm cả biện pháp trước:
+ Hít sâu, thở châm, ho khạc đờm.
+ Ngồi dậy sớm theo tư thế Foler, tập ho, tập thở. Đồng thời vỗ rung để kích thích ho.
+ Sử dụng bộ dụng cụ để tập thở tích cực, sớm nhất có thể.
+ Tập đi lại sớm.
Với nguyên tắc trên việc tập thở là một khâu quan trong, giúp bệnh nhân nhanh chóng phục hồi chức năng thông khí sau mổ.
- Chỉ số phế dung kế (Spirometry) hay chỉ số chức năng hô hấp là yếu tố quan trọng để đánh giá nguy cơ xảy ra biến chứng suy hô hấp sau mổ. Nếu FEV1 và FVC < 70% giá trị tiên đoán, FEV1/FVC < 65% giá trị tiên đoán thì nguy cơ suy hô hấp sau mổ có thể xảy ra. Nếu FEV1 < 1 lít, nguy cơ phẫu thuật sẽ rất cao. Còn nếu FEV1 < 0,8 lít thì bệnh nhân sẽ không thể chịu được cuộc phẫu thuật lớn. Chính vì vậy, khi đo chỉ số khí phế dung lần đầu, rất nhiều bệnh nhân có chỉ số rất thấp, nguy cơ suy hô hấp sau mổ rất cao.
Chính vì vậy, đo chức năng hô hấp được bác sĩ chỉ định cho:
- Tất cả bệnh nhân phẫu thuật cắt phổi
- Bệnh nhân phẫu thuật vùng ngực, bụng trên, có biểu hiện khó thở hay tiền căn hút thuốc lá.
- Bệnh nhân phẫu thuật vùng bụng dưới, có biểu hiện khó thở hay tiền căn hút thuốc lá và cuộc mổ được dự trù sẽ kéo dài.
- Bệnh nhân >60 tuổi; đang hút thuốc lá; đang có bệnh lý phổi; đang có triệu chứng bất thường ở phổi (ho có đờm, thở khò khè trong vòng 5 ngày trước phẫu thuật…)
1.2. Hiệu quả sử dụng bộ dụng cụ tập thở trong lý liệu pháp hô hấp
Trước đây đã từng sử dụng bóng bay để tập thở cho bệnh nhân phẫu thuật mở ngực. Việc sử dụng bóng bay có nhiều hạn chế như dung tích bóng có hạn, bóng dễ vỡ (sau này thường sử dụng bóng cao su dày như ruột bóng chuyền), không biết được chính xác thể tích thông khí khi tập được bao nhiêu. Sử dụng bộ dụng cụ tập thở giúp bệnh nhân đánh giá được chính xác dung tích thở hàng ngày, lượng giá chính xác được sự tiến bộ sau khi bệnh nhân tập thở. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả các chỉ số khí phế dung đều tăng lên rõ rệt. Tất cả các bệnh nhân được chuẩn bị tập thở trước mổ bằng dụng cụ đều không bị suy hô hấp sau mổ, giúp phổi nở tốt hơn sau phẫu thuật và rút ngắn thời gian điều trị cho bệnh nhân.
- 2. KẾT LUẬN
- Cần thực hiện lý liệu pháp hô hấp cho các bệnh nhân chuẩn bị trước và sau phẫu thuật phổi, màng phổi và trung thất.
- Sử dụng bộ dụng cụ tập thở có hiệu quả trong việc giúp làm tăng các chỉ số khí phế dung cho bệnh nhân.
- 3. KIẾN NGHỊ
- Nên ứng dụng đo chức năng hô hấp thành thường quy không chỉ cho những bệnh nhân can thiệp vào lồng ngực, mà còn ở cả những bệnh nhân phẫu thuật vùng bụng, có nhiều nguy cơ suy hô hấp hay bệnh nhân cao tuổi…
- Nên sử dụng bộ dụng cụ tập thở trước mổ và ngay sau mổ (khi bệnh nhân có thể tham gia tập thở) không chỉ cho những bệnh nhân phẫu thuật lồng ngực mà còn cho cả những bệnh nhân già > 60 tuổi, dự kiến cuộc mổ kéo dai, hay ở bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ gây suy hô hấp sau mổ.
|
TÀI LIỆU THAM KHẢO |
|
|
1. |
C M Kigin (1987), Breathing exercises in chest physical therapy. Chest 1987: 92(1):190-191. Doi: 10.1378/chest.92.1.190. |
|
2. |
Gorincour G, Dubus JC, Petit P, Bourliere-Najean B, Devred P. Rib periosteal reaction: did you think about chest physical therapy? Arch Dis Child. 2004;89(11):1078-9 |
|
3. |
Uzawa Y, Yamaguti Y. Change in lung mechanics during application of chest physiotherapy techniques. Journal of the Japanese Physical Therapy Association. 1998;25:222. |
|
4. |
Lanza FC, Wandalsen G, Dela Bianca AC, Cruz CL, Postiaux G, Sole D. Prolonged slow expiration technique in infants: effects on tidal volume, peak expiratory flow, and expiratory reserve volume. Respir Care. 2011;56(12):1930-5 |
|
5. |
J Thomas, D J Cook, and D Brooks "Chest physical therapy management of patients with cystic fibrosis. A meta-analysis." American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine, Vol. 151, No. 3 (1995), pp. 846-50.. |
|
6. |
Kolaczkowski, Waldemar (1995), thechniques of treatment in chest physiotherapy. Cardiopulmonary Physical Therapy Journal: Winter 1995 - Volume 6 - Issue 1 - p 28 |
Tác giả: ĐD Nguyễn Thanh Tùng, CN Trần Xuân Hiền
Hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Trường Giang
Bộ môn - Khoa Phẫu thuật lồng ngực-Tim mạch - BVQY 103









