Ung thư thực quản (UTTQ) là một trong những bệnh ung thư có tiên lượng còn nhiều thách thức. Theo GLOBOCAN 2024, UTTQ đứng thứ 13 trong các bệnh ung thư phổ biến trên thế giới. Tại Việt Nam, bệnh đứng thứ 8 về số ca mới mắc, với 6.792 trường hợp, và thứ 6 về số ca tử vong, với 6.467 trường hợp.
Bệnh thường được phát hiện khi đã ở giai đoạn tiến triển. Hơn 50% người bệnh được chẩn đoán ở giai đoạn không còn khả năng phẫu thuật; khoảng 18% đã có di căn xa tại thời điểm chẩn đoán ban đầu. Tỷ lệ sống thêm 5 năm nhìn chung còn thấp, khoảng 20-25%.
YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ DỰ PHÒNG
Nguyên nhân chính xác gây UTTQ hiện chưa được xác định đầy đủ. Tuy nhiên, một số yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh, bao gồm:
- Bệnh trào ngược dạ dày - thực quản (GERD).
- Barrett thực quản.
- Hút thuốc lá.
- Sử dụng rượu, bia.
Chế độ ăn nhiều thực phẩm chế biến sẵn như xúc xích, thịt hun khói… và ít rau xanh, hoa quả.
Để giảm nguy cơ mắc UTTQ, cần duy trì lối sống lành mạnh: không hút thuốc lá; hạn chế rượu, bia; giảm sử dụng thịt và thực phẩm chế biến sẵn; tăng cường rau xanh, hoa quả. Đồng thời, người bệnh mắc trào ngược dạ dày - thực quản, Barrett thực quản cần được phát hiện, điều trị và theo dõi phù hợp.
CHẨN ĐOÁN UNG THƯ THỰC QUẢN
Lâm sàng
UTTQ thường gặp ở người trên 50 tuổi. Một trong những biểu hiện thường gặp là nuốt nghẹn tăng dần, ban đầu có thể nghẹn khi ăn thức ăn đặc, sau đó tiến triển và ảnh hưởng đến khả năng ăn uống.
Người bệnh có thể nôn sau ăn. Khi khối u phát triển lớn và xâm lấn hoặc chèn ép các cơ quan xung quanh, có thể xuất hiện đau sau xương ức, khó thở, khàn tiếng, ho ra máu. Ở giai đoạn muộn, người bệnh thường sụt cân, suy dinh dưỡng và suy kiệt.
Cận lâm sàng
Nội soi thực quản - dạ dày và sinh thiết: giúp quan sát tổn thương và sinh thiết bệnh phẩm để chẩn đoán mô bệnh học.
CT ngực - bụng: đánh giá tính chất, mức độ xâm lấn của khối u, tình trạng di căn hạch và di căn xa.
Siêu âm nội soi thực quản: có giá trị trong đánh giá mức độ xâm lấn thành thực quản, đặc biệt ở các tổn thương giai đoạn sớm; đồng thời có thể hỗ trợ sinh thiết các hạch nghi ngờ.
Nội soi khí - phế quản: được chỉ định trong những trường hợp nghi khối u xâm lấn đường thở.
FDG-PET/CT: có giá trị trong đánh giá giai đoạn bệnh, phát hiện tổn thương di căn, đánh giá đáp ứng điều trị và phát hiện tái phát.
ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN
Điều trị UTTQ hiện nay là điều trị đa mô thức, phối hợp giữa phẫu thuật, xạ trị và điều trị toàn thân (hóa trị, liệu pháp miễn dịch …).
Việc lựa chọn phương pháp và chiến lược điều trị phụ thuộc vào vị trí khối u, giai đoạn bệnh, đặc điểm mô bệnh học, dấu ấn sinh học và tình trạng toàn thân của người bệnh.
UTTQ giai đoạn sớm: Một số tổn thương rất sớm có thể được điều trị bằng các kỹ thuật nội soi phù hợp. Những trường hợp có chỉ định phẫu thuật có thể được cắt thực quản và tái lập lưu thông đường tiêu hóa.
UTTQ giai đoạn tiến triển tại chỗ - tại vùng: Điều trị thường cần phối hợp nhiều phương pháp. Người bệnh có thể được hóa xạ trị trước phẫu thuật, sau đó phẫu thuật đối với những trường hợp phù hợp. Với UTTQ đoạn cổ hoặc các trường hợp không có khả năng phẫu thuật, hóa xạ trị triệt căn là một trong những phương pháp điều trị quan trọng.
UTTQ giai đoạn muộn: Mục tiêu điều trị là kiểm soát bệnh, giảm triệu chứng, duy trì dinh dưỡng và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tùy từng trường hợp, người bệnh có thể được hóa trị, liệu pháp miễn dịch, xạ trị giảm nhẹ, đặt stent thực quản hoặc mở thông dạ dày để bảo đảm dinh dưỡng.
Các kỹ thuật xạ trị hiện đại như xạ trị điều biến liều (IMRT) và xạ trị điều biến thể tích (VMAT) cho phép phân bố liều xạ phù hợp hơn với thể tích khối u, đồng thời góp phần hạn chế liều chiếu vào các cơ quan lành xung quanh. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với những khối u thực quản nằm gần các cơ quan quan trọng trong lồng ngực và vùng cổ.
THEO DÕI SAU ĐIỀU TRỊ
UTTQ có nguy cơ tái phát và di căn, vì vậy người bệnh sau điều trị cần được theo dõi định kỳ.
Trong quá trình theo dõi, bác sĩ sẽ đánh giá tình trạng toàn thân, cân nặng, khả năng ăn uống, tình trạng nuốt nghẹn, đau và các triệu chứng bất thường khác. Tùy tình trạng cụ thể, người bệnh có thể được chỉ định xét nghiệm máu, nội soi, sinh thiết, CT hoặc các phương tiện chẩn đoán hình ảnh cần thiết.
Bên cạnh phát hiện tái phát hoặc di căn, việc theo dõi còn nhằm nhận biết và xử trí các biến chứng sau điều trị như hẹp hoặc rò miệng nối, rò thực quản, viêm phổi và các biến chứng khác.
Điều trị ung thư thực quản là một quá trình cần sự phối hợp của nhiều chuyên khoa. Bộ môn - Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Quân y 103 triển khai các phương pháp chẩn đoán và điều trị đa mô thức, phối hợp phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, liệu pháp miễn dịch và các phương pháp điều trị toàn thân phù hợp với từng người bệnh.
Người bệnh có nhu cầu tư vấn về chẩn đoán, điều trị, theo dõi và chăm sóc ung thư thực quản có thể liên hệ:
















