1. Đại cương.
1.1. Tình hình : Nước ta ở vùng nhiệt đới thích hợp cho bệnh nấm da phát triển.Bệnh thường đứng hàng thứ hai sau bệnh eczema (nhưng trong quân đội bệnh nấm da thường đứng hàng đầu).
1.2. Giới thiệu vài nét về vi nấm:
+ Nấm là một loai vi sinh vật hạ đẳng, không có diệp lục tố nên không tổng hợp được chất hữu cơ, phải sống nhờ vào chất hữu cơ của sinh vật khác bằng cách sống hoại sinh (Saprophyta) hoặc bằng cách sống ký sinh vào vật chủ (pazazita).
+ Nấm mọc thành sợi, chia đốt bởi các vách ngăn có lỗ thủng để nguyên sinh chất lưu thông trong lòng sợi nấm. Nhiều sợi chằng chịt tạo thành hệ sợi nấm, khi già hình thành bào tử, thường có hình tròn, 2 vỏ, vỏ ngoài dày, có sức chống đỡ cao với điều kiện ngoại cảnh, nguyên sinh chất cô đặc dự trữ chất dinh dưỡng, như vậy bào tử chính là cơ quan lây truyền và bảo vệ nòi giống của nấm.
1.3. Phương thức lây truyền:
Ngưòi ta bị bệnh nấm lây truyền do các phương thức sau:
a - Từ người bệnh truyền sang người lành
b - Từ động vật ( chó, mèo ) truyền sang người lành
c - Từ môi trường ( đất , cây cỏ, không khí ) lây truyền sang người lành
Trong đó véc tơ chính là người bệnh lây truyền sang người lành do chung sống, sử dụng đồ dùng chung như mũ giầy với người lành.
1.4. Điều kiện thuận lợi để mắc bệnh nấm da
+ Nấm dễ phát triển ở pH 6,9-7,2 hơi kiềm do đó người ta hay bị bệnh nấm da ở nếp kẽ.
+Da bị xây sát, da khô, rối loạn cấu tạo lớp sừng.
+ Nhiệt độ 27-300C
+ Vệ sinh kém, mặc quần áo lót chật bằng đồ nylon.
+Rối loạn nội tiết , suy giảm miễn dịch, dùng kháng sinh lâu ngày, dùng thuốc ức chế miễn dịch dễ nhiễm nấm, đặc biệt nấm candida
1.5. Miễn dịch trong bệnh nấm da.
+ Người có thể địa dễ "bắt nấm" (liên quan yếu tố mồ hôi, tuyến bã, cấu tạo lớp sừng...)
+ Nấm da có miễn dịch nhưng tính kháng nguyên thấp và không đặc hiệu. Nên việc dùng kháng nguyên để chẩn đoán và phòng bệnh nấm da chưa có kết quả cao.
1.6. Cơ cấu bệnh nấm da.
Theo Nguyễn Cảnh Cầu ( 1994) , khám 5663 quân nhân có 2634 người bị bệnh ngoài da ( chiếm 46,51%). Trong đó cơ cấu bệnh như sau :
Bệnh nấm da chiếm 37,31%, bệnh lang ben chiếm 14,12%, ghẻ : 13,17%, viêm da liên cầu 11,84%, Ecema 3,15%. Các bệnh ngoài da khác 15, 86%.
1.7. Phân loại bệnh nấm da: dựa vào tính chất và đặc điểm của nấm gây bệnh chia thành các loại sau:
1.7.1 Nấm nông
- Nấm chỉ gây nhiễm lớp sừng (Keratomycoses)
Nấm lang ben.
Nấm vảy rồng.
Trứng tóc.
- Nấm da (Dermatomycoses).Gây nên do các chủng:
Epidermophytie.
Trichophytie.
Microsporie.
Favus
1.7.2- Các bệnh gây nên do nấm Candida (candidiasis ,candidoses).
1.7.3- Các bệnh nấm hệ thống, nấm sâu (systemic mycosis , deep mycosis ): gây tổn thương da,tổ chức dưới da và nôi tạng.
2.Một số bệnh nấm da thông thường:
2.1 Nấm hắc lào: gồm nấm bẹn, nấm da thường, (trừ nấm tóc, nấm kẽ, nấm móng). Bệnh thường bị vào mùa hè.
- Căn nguyên: gây nên do Epidermophyton, Trichophyton hoặc Microsporum.
- Vị trí: thường xảy ra ở các nếp kẽ lớn, thường ở nếp bẹn 2 bên, kẽ mông,thắt lưng, nách, nếp vú phụ nữ, thân mình, bàn tay chân , đôi khi xuất hiện ở cổ gáy, mặt.
-Tổn thương cơ bản: ban đầu khi nhiễm nấm, trên da xuất hiện đám da đỏ hình tròn như đồng xu đường kính 1-2 cm sau lan to ra, về sau các đám tổn thương liên kết thành mảng lớn bằng lòng bàn tay hay to hơn nữa, có hình đa cung.
-Tính chất: đám da đỏ ranh giới rõ, có bờ viền bờ gồ cao trên mặt da, bờ có một số mụn nước nhỏ , giữa đám tổn thương có xu hướng lành, hơi bong vảy da. Tổn thương phát triển li tâm dần ra ngoại vi.
-Triệu chứng cơ năng: ngứa, đặc biệt khi nóng, ra mồ hôi thì rất ngứa khó chịu.
-Tiến triển: lành tính nhưng nếu không điều trị kịp thời và triệt để dễ trở thành nấm da mạn tính hay tái phát.
- Các thể lâm sàng:
Nấm da nhiễm khuẩn: do bệnh nhân gãi, tổn thương bị trợt dẫn đến nhiễm khuẩn phụ, xuất hiện một số mụn mủ trên đám tổn thương nấm.
Nấm da viêm da, eczema hoá: do bệnh nhân chà xát, gãi, hoặc bôi thuốc không thích hợp làm tổn thương trợt, rớm dịch, chảy dịch, viêm đỏ lan toả, nề...
Nấm da mạn tính: bề mặt tổn thương thẫm màu, giới hạn tổn thương kém rõ rệt, chẩn đoán khó, có khi xét nghiệm nấm âm tính.
- Cận lâm sàng:
Cần cạo vảy da từ tổn thương để xét nghiệm soi tìm sợi nấm hoặc nuôi cấy để xác định loài nấm.
- Chẩn đoán phân biệt: cần chẩn đoán phân biệt một số bệnh da sau:
+ Phong củ: vị trí hở, giới hạn rõ nhưng bờ là củ nhỏ, mất cảm giác, xét nghiệm nấm (-),tìm trực khuẩn Hansen dương tính.
+ Vảy phấn hồng Gibert hay xảy ra ở 1/2 phía trên cơ thể, tổn thương có tính chất đám mẹ, đám con, đám đỏ có giới hạn, có viềnvảy mỏng ở rìa đám.
+ Vảy nến: cộm đỏ, giới hạn rõ, vảy trắng nhiều tầng nhiều lớp.
+ Nấm da mạn tính với eczema mạn cần chẩn đoấn phân biệt bằng xét nghiệm nấm
2.2.. Nấm kẽ chân:
- Vị trí bệnh thường thấy xuất hiện ở kẽ ngón chân đặc biệt hay gặp ở kẽ ngón 3-4 sít nhau .
- Căn nguyên: do các loài Epidermophyton, Trichophyton gây nên. Bệnh hay gặp ở người lội nước, đi giầy tất bí hơi (nấu ăn, công nhân cầu phà, công binh hành quân dã ngoại, vận động viên bơi lội).
-Triệu chứng lâm sàng: tổn thương bắt đầu ở giữa kẽ ngón 3-4, (hay gặp nhất ở một số người có cấu tạo giải phẫu ngón 3-4 sít nhau) rồi dần dần lan sang kẽ ngón khác. Tổn thương ban đầu bợt trắng hơi bong vảy, nổi một số mụn nước, ngứa nhiều, gãi trợt da, có nền đỏ, có khi viêm nề, sưng tấy do nhiễm khuẩn thứ phát, khi đó bệnh nhân có thể sốt, hạch bẹn sưng. Nấm có thể lan lên mu bàn chân, xuống mặt dưới bàn chân, đôi khi có mụn nước sâu dạng tổ dỉa ở lòng bàn chân (dị ứng thứ phát).
Trường hợp do loài nấm Trichophyton thì tổn thương thường đỏ, róc da ở gót chân, rìa bàn chân, các kẽ chân, và có khi có mụn nước sâu hoặc có tổn thương ở móng, móng sẽ mủn trắng vàng...
Cần chú ý chẩn đoán phân biệt với các bệnh da khác: á sừng bàn chân, tổ đỉa thể khô, eczema tiếp xúc...
2.3 Nấm lang ben: (Pityriasis versicolor, Malassezia furfure).
- Căn nguyên: bệnh do nấm men pityrosporum ovale gây nên.
Thường gặp ở người trẻ, thanh thiếu niên. Tổn thương thường bị ở 1/2 người phía trên như ở cổ, vai, ngực, lưng, cánh tay, có khi lan xuống đùi. Tổn thương ban đầu là các chấm, vết hình tròn đường kính 1-2 mm trông giống như bèo tấm , ăn khớp với lỗ chân lông, thường có màu trắng, hồng (nhất là khi đi nắng khi ra mồ hôi) đôi khi có màu nâu. Các thương tổn liên kết với nhau tạo thành các đám có hình vằn vèo, hình bản đồ, giới hạn rõ, khi cạo bong ít vảy cám (dấu hiệu vỏ bào).
- Triệu chứng cơ năng: ngứa, nhất là khi nóng ra mồ hôi hay đi nắng về, ngứa râm ran.
- Tiến triển:hay tái phát do bào tử còn sót lại trong nang lông,ít lây lan.
- Cận lâm sàng: Để chẩn đoán xác định cần cạo vảy da xét nghiệm tìm đoạn sợi nấm hay tế bào nấm men.
- Chẩn đoán phân biệt: cần chẩn đoán phân biệt nấm lang ben với các bệnh da khác như: bạch biến, á sừng liên cầu dạng vảy phấn,vảy phấn hồng Gibert hay erythrasma
2.4. Nấm vẩy rồng: ( bệnh Tokelau )
- Căn nguyên: do nấm Trichophyton concentricum hay gặp ở miền núi như ở Tây nguyên, Trường Sơn
-Triệu chứng lâm sàng: khi nhiễm nấm xuất hiện nhiều vảy da, vảy bám trên nền da bình thường, da không viêm, không có mụn nước. Đám da tổn thương có hình tròn đồng tâm, xếp lên nhau như ngói lợp, vảy da mỏng như vỏ khoai tây, một bờ bám vào da, một bờ tự do bay lất phất, tổn thương thường xuất hiện ở lưng, ngực, bụng, cánh tay.
-Triệu chứng cơ năng: ngứa nhiều làm mất ngủ dẫn đến suy nhược thần kinh.
-Tiến triển: không bao giờ tự khỏi, mang tính địa phương, dễ lây lan trong gia đình, cần phải điều trị kịp thời.
- Chẩn đoán cận lâm sàng:cần xét nghiêm vảy da tìm sợi nấm
- Chẩn đoán phân biệt: cần chẩn đoán phân biệt với bệnh da cá (ichthyosis ).
2.5. Nấm móng:(Onychomycosis).
- Căn nguyên: thường do các loài trichophyton hoặc microsporum gây nên.
- Vị trí: thường xuất hiện ở móng tay và móng chân.
-Triệu chứng lâm sàng: bị một móng sau lan dần ra các móng khác (hàng tháng). Thường bắt đầu ở bờ tự do của móng hoặc ở gốc móng, khi có đám nấm ở mu bàn tay lan xuống. Tổn thương ban đầu thường có điểm trắng, móng mất độ bóng, điểm trắng đục hoặc hơi vàng to dần, móng trắng mủn hoặc màu vàng mủn ra như ruột sậy. Móng dần dần bị ăn vẹt, xù xì biến dạng, đôi khi tách khỏi nền móng.
- Cận lâm sàng: cần cạo vảy móng đem soi tìm sợi nấm hay bào tử đốt.
- Chẩn đoán phân biệt: cần phân biệt với bệnh vảy nến móng, nhiều móng cùng bị một lúc và trên da cũng có tổn thương vảy nến, móng xét nghiệm nấm âm tính. Các bệnh móng khác: viêm quanh móng do vi khuẩn, hoặc bệnh nấm móng do nấm men Candida bệnh này thường gây viêm ở quanh chân móng, đôi khi có dịch mủ và bệnh loạn dưỡng móng.
2.6 Nấm tóc:
2.6.1. Bệnh trứng tóc (hay còn gọi là bệnh tóc hột) căn nguyên do các loài nấm piedra alba (Trichosporon beigloi ) gây trứng tóc trắng, và piedra nigra gây trứng tóc đen. ở Việt Nam thường gặp loại piedra nigra ( Piedra hortai ) chủ yếu gây tổn thương ở tóc. Điều kiện thuận lợi để nấm gây bệnh khi để tóc ẩm, như gội đầu ban đêm, đội mũ ngay sau khi gội đầu, hay gặp ở nữ nhiều hơn nam, lây truyền khi dùng chung mũ lược. Khi nhiễm nấm thì dọc theo thân tóc có các hạt nhỏ bằng hạt vừng màu đen bám chặt vào thân tóc. Các hạt nhỏ chính là sợi nấm và bào tử đốt tạo nên rất cứng và chắc làm gãy thân tóc. Nấm lan từ sợi tóc này sang sợi tóc khác.
2.6.2. Nấm tóc do Microsporum hoặc Trichophyton: Trên da đầu có các đám đỏ, hình tròn, hình ô van, bong vảy, ranh giới rõ, tóc bị phạt gãy cách da đầu 1 vài mm, có khi chỉ còn chấm đen, chân tóc có thể có bự trắng như nhúng trong bột, hay còn gọi là dấu hiệu chân tóc "đi bít tất" vẩy da thường có màu trắng hay màu trắng xám. Triệu chứng cơ năng: rất ngứa. Bệnh có thể lây từ chó mèo sang người.
Thể thâm nhiễm mưng mủ: ( Kerion de celse ) bị vùng đầu, có các ổ mủ ở nang lông (áp xe nang lông) liên kết thành 1-2 đám viêm mạnh, giới hạn rõ, trên mặt đầy vảy mủ, cậy các vảy ra có các hố lõm có mủ màu vàng, mủ rất hôi, trông giống tổ ong, tóc bị trụi.
- Chốc đầu lõm chén ( Favus ) do T .schoenlenii, tính chất viêm mạn tính có những đám da hình lõm chén đường kính 10 - 15 mm, bờ gờ cao và không đều, tóc rụng nhưng mất độ bóng, từ tổn thương bốc lên một mùi hôi như mùi chuột chù . Bệnh kéo dài và teo da dần, khi chữa hết nấm tóc cũng không mọc lại được do tạo sẹo ,bệnh nhân bị hói đầu.
Chẩn đoán cận lâm sàng: xét nghiệm cạo vảy da hoặc nhỏ chân tóc đem soi tìm sợi nấm.
Chẩn doán phân biệt: trên lâm sàng cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh sau:
- Rụng tóc pelade.
- Rụng tóc da dầu.
- Viêm chân tóc.
- Chốc do liên cầu.
3. Điều trị và phòng bệnh nấm da:
3.1. Nguyên tắc: phát hiện sớm, điều trị kịp thời để tránh lây lan trong đơn vị .
Điều trị phải bôi , liên tục ,đúng phác đồ, đủ thời gian. Điều trị nấm da 3-4 tuần, nấm móng 3-6 tháng.
-Tránh cạo gãi chà xát gây viêm da, eczema hoá và nhiễm khuẩn phụ.
- Khi nấm lây truyền trong tập thể thì phải điều trị hàng loạt, điêù trị một đợt đột kích
- Bôi thuốc đúng nồng dộ thích hợp.
- Kết hợp biện pháp VSPB, giặt luộc quần áo phơi nắng, lộn trái quần áo khi phơi.
- Tránh bôi các thuốc hại da như acid, pin đèn, kiến khoang, tránh thói quen mặc quần áo lót chật, và không nên dùng đồ sợi nhân tạo.
3.2. Điều trị cụ thể:
-Điều trị nấm hắc lào : thuóc bôi : Cồn BSI 1 - 3% hoặc cồn ASA kết hợp với bôi mỡ Benzosali.
Phác dồ điều trị cục quân y:
Tuần 1: cồn BSI 2% bôi sáng, chiều .
Tuần 2: sáng bôi BSI 2%, chiều bôi mỡ benzosali
Tuần 3 : mỡ benzosali bôi ngày một lần cho đến khi khỏi, mịn da .
Trường hợp nấm diện rộng, nấm da mãn tính tái phát nhiều lần, hay do chủng Trichophyton rubrum thì cho uống kháng sinh chống nấm: Griseofulvin 0,25g x 4 viên/ngày x 1 tháng, kết hợp với bôi thuốc như trên.
- Nấm lang ben: Bôi cồn BSI 2% hoặc cồn ASA kết hợp mỡ Benzosali 15 - 20 ngày, Merocurobutol thuốc bôi mới có hiệu quả cao, hoặc bôi kem Nizoral, Trosyd, Lamisil. Có thể tắm xà phòng Nizoral, Kelog, Sastid để điều trị lang ben. Trong đông y có thể dùng giềng già ngâm dấm thanh rồi bôi.Ngoài bôi thuốc chống nấm ,để bệnh có thể khỏi ,tránh tái phát cho uống ketoconazon 200 mg 2 viên / ngày một đợt 20 ngày.
- Nấm vảy rồng: tắm nước và xà phòng cho bở vảy bôi cồn BSI 2% hoặc cồn ASA kết hợp bôi mỡ Benzosali và uống Griseofulvin 0,25 x 4 viên / ngày x 1 tháng, có thể uống Nizoral hoặc Sporal.
- Nấm kẽ : Bôi cồn BSI 2%, ASA, dung dịch Castellani, nếu cần uống Griseofulvin 1 g/ ngày x 20 - 30 ngày, hoặc uống Nizoral hay Sporal.
- Nấm tóc:
+ Trứng tóc gội đầu xà phòng nước ấm, chải mỡ Benzosali, hoặc gội đầu xà phòng Sastis bar, bôi kem Nizoral hay Kelog.
+ nấm tóc do Trichophyton, Microsporum thì nhổ sợi tóc bệnh, chấm cồn Iốt 2%, bôi thuốc màu và uống Griseofulvin 1 g/ ngày x 1 tháng, có thể bôi kem Nizoral, Lamisil, Trosyd hoặc uống Nizoral hay Sporal.
-Nấm móng : Có 3 phương pháp điều trị :
Điều trị bảo tồn: khi tổn thương mới bị ít móng, vẹt ít (1/3 móng) thì tiến hành như sau: Ngâm móng vào nước ấm 500 c, cạo gọt phần mủn đến khi đau rớm máu thì thôi sau đó chấm cồn iốt 10 %, mỡ Arievich, hoặc bôi kem Nizoral kết hợp với uống thuốc chống nấm như Griseofulvin ,sporal.
Khi móng nhiễm nấm bị ăn vẹt tới 2/3 móng thì bóc móng bằng phẫu thuật ( nhanh gọn nhưng đau, chảy máu, tai biến do phẫu thuật có thể xảy ra, có thể sót sợi nấmlại tái phát ) nên đắp dung dịch ureplast trước 3 ngày rồi bóc sẽ không đau, không chảy máu, kết hợp bôi thuốc tại chỗ và uống thuốc chống nấm.
Điều trị nấm móng bằng phương pháp uống kháng sinh chống nấm.Nếu chọn uống griseofulvin 500mg uống 2 viên/ngày x 30 ngày trong tháng đầu, tháng thứ hai uống cách nhật, tháng thứ ba tuần uống 2 ngày,tổng liều 220 viên hoặc điều trị nấm móng bằng Sporal ngày uống 2 viên Sporal 0.1 g x 2 lần / ngày, uống liên tục 7 ngày sau đó nghỉ thuốc 3 tuần rồi uống lặp lại như trên. Nấm móng tay uống 2 - 3 lần, nấm móng chân uống 3 hoặc 4 lần.
-Điều trị nấm da kèm theo nhiễm khuẩn: Trong thực tế phần lớn điều trị nhiễm khuẩn trước bằng thuốc màu, kháng sinh sau đó điều trị bệnh nấm.
3.3 Điều trị bệnh nấm da: bằng đông nam y có dùng một số loại nhưng hiệu quả chưa cao
Cồn lá muồng trâu 20 - 50 %, cồn bạch hạc, cồn chút chít điều trị nấm da, điều trị lang ben thì dùng giềng già ngâm trong dấm.
3.4. Phòng bệnh:
- Phát hiện sớm, điều trị kịp thời để tránh lây lan trong đơn vị nhiều rồi mới điều trị.
- Tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh , nhắc nhở nếp sống vệ sinh, giữ khô các nếp kẽ, tránh mặc quần áo lót chặt bí hơi ...bằng ni lon, cần cắt móng móng tay, cắt tóc ngắn, giữ khô các nếp kẽ sau khi tắm.
Rắc bột phòng nấm, tẩm chất chống nấm vào quần áo....
BỆNH NẤM CANDIDA ( Candidoses, candidiasis).
1. Đại cương về nấm candida.
Có rất nhiều loại có tới 300 giống.
+ 1952 : thấy có 30 loài liên quan đến y học.Trong các loài đó thì C.albicans có độc tính cao nhất và hay gây bệnh nhất ở người. Ngoài ra còn có C.tropicalis, C.pseudotropicalis, C. parakrusei , C. krusei, C. guillermondi mà trên lâm sàng cũng hay gặp.
Những loài candida thường tạp sinh. Nhưng trong điều kiện thuận lợi thì gây bệnh ( gây bệnh cơ hội ).
1.1. Vị trí của candida trong phân loại nấm men ( levures).
Candida là một loài nấm men thuộc họ Cryptococcacae
Candida là một loại nấm men sinh sản bằng nảy chồi. Có thể có sợi nấm giả gồm các tế bào dài dính vào nhau bởi một điểm nhỏ và dễ gẫy.
. Tất cả các bệnh do nấm candida gây ra thì gọi là bệnh candidose ) bệnh levures , monilia ).
1.2. Hình dạng của nấm men Candida khi xét nghiệm:
+ Soi tươi hoặc nhuộm (theo phương pháp nhuộm gram hay nhuộm PAS) thấy tế bào tròn đơn lẻ kích thước 2- 4 mm, trong đó thành tế bào mỏng.
+ Trong phiến đồ mô bệnh học (sinh thiết tổ chức nhiễm bệnh) có thể thấy hình ảnh nấm candida ở dạng sợi giả và có tế bào nảy chồi bắt mầu đậm. Nếu là tạp nấm thì không có tế bào nảy chồi.
+ Ở da có thể tìm thấy tế bào nảy chồi ở lớp sừng, gai, trung bì.
Chú ý : soi tươi hay ở trong tổ chức khi chẩn đoán là nấm phải :
+ Thấy tế bào nấm men mọc chồi hình số 8 hoặc hình con "lật đật" và hình sợi "miến giả".
+ Số lượng phải nhiều so với tạp khuẩn khác.
+ Nếu bệnh phẩm lấy ở tổ chức kín ( như túi mủ, màng não, khoang bụng, nước tiểu ) mà thấy hình chồi nẩy mầm- sợi " miến giả" coi là dương tính.
+ Trên da nếu thường thấy nhiều tế bào nấm nảy chồi và sợi " miến giả" cũng được coi là dương tính.
1.3. Giới thiệu một số tỷ lệ : trong 6 năm từ 1960- 1966 ( BV Pastơ) lấy 3000 bệnh phẩm cấy được 640 chủng Candida. Phân bố như sau :
C. albicans 500 chủng ( 78%) , C. pesudotropicalis 25 ( 39%).C. tropicalis 50 ( 7,8%) , C. guillermondi 15 ( 2%).C. krusei 50 ( 48%).
Theo RLEY( 1977) đã cấy 14600 bệnh phẩm từ dịch âm đạo của 12365 phụ nữ , nấm Candida albicans chiếm 57,9%, C. krusei 12,1%, Torulop glabrata 8,8%, Sacharomyces cerevisiae 3,6%.
2. Các yếu tố thuận lợi dễ nhiễm nấm Candida.
+ Yếu tố nội lai: ( Endogen )
- Bệnh nhiễm trùng cấp tính hay mạn tính.
- Bệnh chuyển hoá: tiểu đường,béo phì.
- Thiếu các sinh tố nhóm B ( B2, B6, PP )và C .
- Sử dụng các kháng sinh phổ rộng kéo dài.
- Sử dụng Cocticoid kéo dài .
- Sử dụng các thuốc kháng tế bào ( điều trị ung thư).
- Bệnh đái đường, bỏng, ung thư, nhiễm HIV/AIDS, thai nghén.
- Sau phẫu thuật thay van tim.
- Bệnh nhân suy mòn , suy kiệt .
- Viêm niêu đạo sau lậu.
+ Yếu tố ngoại lai ( Exogen )
- Người già, răng rụng hết.
- Loét do bỏng ở bệnh nhân bỏng.
- Người hay tiếp xúc với nguồn nước, hoa trái, thực phẩm , công nhân sản xuất bia, thợ giặt...
3. Triệu chứng lâm sàng .
3.1. Candida niêm mạc.
3.1.1. Nấm Candida ở niêm mạc miệng lưỡi hay còn gọi là tưa ( muguet) hay gặp ở trẻ em, người già yếu và người bị mắc các bệnh khác làm suy nhược cơ thể, hoặc dùng kháng sinh và Cocticoit dài ngày.
Triệu chứng khi bị nấm niêm mạc miệng đỏ, trên hàm ếch có thể có ít vết trợt nông có khi hợp lại thành đám trắng như căn sữa đọng, lấy ra dễ dàng. Hay khu trú ở trên mặt lưỡi và mặt trong má, có khi lan xuống cả họng, thực quản, có khi kèm điểm loét, hoại tử. Ở những người già yếu, trẻ em suy dinh dưỡng, có thể phối hợp với tụ cầu, liên cầu làm cho niêm mạc sần sùi lên.
3.1.2. Nứt mép do Candida.
Mép đỏ, nứt và loét trợt, hay kèm theo tưa trong miệng và có thể lan ra cả mặt. Thường hay phối hợp với tụ cầu gây viêm môi (Cheilite).
3.1.3.Nấm Candida gây viêm các kẽ: thường gặp ở các kẽ lớn như bẹn, nách, dưới vú, khoeo, khuỷu và kẽ ngón tay, kẽ ngón chân. Thương tổn là những vết đỏ, ranh giới rõ, hơi gồ cao, có vảy, có khi có mụn nước hoặc mụn mủ. Bề mặt thương tổn đỏ và ướt. Bờ không đều, nham nhở, xung quanh có một viền vảy mỏng dễ bong.Tổn thương thường khu trú vào các kẽ. Đáy của kẽ thường thành vết nứt chảy dịch, ở kẽ chân do đi giầy dép bị ẩm ướt nhiều, cho nên tình trạng bợt da (maceration) thành từng mảng, ở dưới da trợt đỏ tươi, dễ bị nhiễm trùng phụ làm cho tổn thương có mủ, vì vậy tìm nấm rất khó. Tổn thương còn lan lên cả mặt mu của các ngón.
3.1.4.Nấm Candida ở da đầu: ít gặp. Trên da đầu cả những vùng có tóc thấy những đám viêm chân tóc (folliculitis) có mủ. Trong mủ ấy vừa tìm thấy cả tụ cầu và cả nấm men. Tóc bị rụng và không mọc lại. sợi tóc không bị tổn thương, tìm không thấy sợi nấm cũng như bào tử nấm.
3.1.5. Viêm móng do Candida .
Thương tổn bắt đầu thường là viêm quanh móng đặc biệt là ở gốc móng, có khi có mủ có khi không. Về sau móng dày lên có đường nứt, đôi khi có màu nâu nhưng không mất vẻ bóng và không gãy. Bên dưới móng không có vảy vụn như trong nấm móng khác. Cũng có khi móng dày trở nên đục và dưới móng cũng có những mảng vảy làm cho khó chẩn đoán phân biệt, đôi khi có dịch mủ ở gốc móng.
3.1.6. Nấm Candida âm hộ, âm đạo: Triệu chứng chủ yếu là ngứa. Da âm hộ đỏ và nhẵn. Trong kẽ mép có bợt da (maceration) trên phủ một chất như kem màu trắng. Bên dưới là tổn thương đỏ tươi hoặc đỏ sẫm, bờ không đều, nham nhở, xung quanh có viền vảy da.
Âm đạo khi nhiễm nấm thì có những nốt trắng như tưa, dính vào thành âm đạo có khi không thấy rõ vì có bài tiết nhiều chất nhầy, lẫn mủ. Đối với phụ nữ có thai thì cảm giác ngứa tăng lên làm rát như phải bỏng, khí hư ra nhiều.
Tổn thương có thể lan ra cả bẹn, nhất là ở những người bị bệnh đái đường. Bệnh rất dai dẳng, có khi hết triệu chứng lâm sàng nhưng nấm vẫn tồn tại trong âm đạo và trong điều kiện thuận lợi nào đấy, nấm lại phát triển lên. Các triệu chứng lân sàng thường không phụ thuộc vào số lượng nấm tìm thấy trong âm đạo.
3.1.7. Viêm qui đầu do Candida: hay gặp ở người có vợ bị viêm âm đạo do nấm men.
Tổn thương bắt đầu bằng mụn nước, mụn mủ, khi vỡ để lại các vết trợt tròn, ban đỏ rải rác hoặc liên kết thành đám màu đỏ tươi, có viền biểu bì, có chất bự trắng, có khi có vảy khô, thường ngứa.
3.2. Candida sâu:
Hình thái u hạt (granulomateuse): Thường bắt đầu là một nứt mép, tưa, sau đó lan xuống quanh móng rồi vào móng lan cả lên da đầu, có khi cả người và chi dưới. Loại này có một phản ứng viêm lan sâu xuống trung bì, tạo thành những u sần sùi nhô lên như mụn cơm rất lớn 4-8 mm đường kính, trên có vẩy. Cậy ra đáy có những tổ chức hạt chảy máu dễ dàng.
4. Nấm Candida ở phủ tạng.
4.1. Nấm Candida phế quản (Candidose bronchique) : thường gặp ở những người suy giảm miễn dịch hoặc nông dân đập lúa hít phải buị có mầm bệnh.
+ Bệnh nhân ho nhiều, đờm đặc, dính trong có những hạt lổn nhổn cấu tạo nên bởi các tế bào biểu mô bong ra trộn lẫn với nấm, không mầu.
Toàn trạng ít bị ảnh hưởng.
+ Nghe phổi có ran rít nhất là ở đáy.
+ Chiếu X quang chỉ thấy hình ảnh của viêm cuống phổi.
+ Xét nghiệm đờm tìm thấy có nhiều nấm men.
4.2. Nấm Candida ở phổi ( Candidose pulmonaire).
+ Ho nhiều và đau ngực, sốt mạch nhanh.
+ Đờm lúc đầu ít, sau nhiều và dính, có ít tia máu. Có khi nhiễm trùng phụ làm cho đờm lẫn máu.
+ Nghe và X quang có thể thấy những tổn thương giống viêm phổi ở một hoặc cả hai phế trường.
+ Cần soi và cấy nấm , có thể do C. albicans hoặc C. tropicalis.
4.3. Nhiễm nấm Candida ở amidal: hạnh nhân có những nốt trắng như tưa.
4.4. Nhiễm nấm Candida đường tiêu hoá: thường xẩy ra sau khi dùng kháng sinh lâu dài, nhiễm Candida thực quản, nhiễm Cadida ở thanh quản thường xảy ra trên những bệnh nhân suy giảm miễn dịch.
4.5. Bệnh nấm Candida ở hậu môn.
4.6. Viêm nội tâm mạc do Candida.
4.7. Viêm phúc mạc và tiết niệu do Candida .
4.8. Nhiễm khuản huyết do Candida .
4.9. Nhiễm Candida ở hệ thần kinh .
5. Nhiễm nấm candida ở các giác quan ( candidose).
5.1. Viêm tai và xoang do Candida .
5.2. Nhiễm nấm Candida ở mắt thường gây viêm giác mạc hay kết mạc .
6. Xét nghiệm nấm Cadida
Tất cả những bệnh nghi nhiễm nấm Cadida cần được lấy bệnh phẩm đem soi và nuôi cấy để xác định loài nấm.
7. Điều trị bệnh nấm Candida.
+ Điều trị nấm Candida ở niêm mạc miệng, lưỡi thì rửa, súc miệng bằng dung dịch Natribicácbonat hoặc chấm dung dịch Glycerinborat 3 % và bôi Daktarin gel.
+ Candida âm đạo rửa bằng dung dịch Natribicácbonat, đặt thuốc chống nấm như : Nystatin, Clotrimazol, Polygynax, Tergynan, Miconazol, kết hợp uống thuốc chống nấm như Nizoral , Sporal hoặc fluconazol.
+ Với Candida ở da có thể bôi thuốc màu như Gentian 2%, Milian, Castellani, hoặc kem Nystatin, Nizoral, Canesten. Nếu tổn thương rộng thì ngoài bôi tại chỗ phải uống thuốc chống nấm thuộc nhóm Imidazol như Ketoconazol, Itraconazol, fluconazol.
+ Candida hệ thống hay u hạt do candida có thể truyền tĩnh mạch chậm amphotericin B 0,25- 1,0 mg/ kg thể trọng/ ngày hoặc uống thuốc chống nấm nhóm Polyen hay nhóm Imidazol.
+ Trong điều trị nấm Candida cần loại bỏ các yếu tố thuận lợi, tăng cường uống vitamin B các loại, cần giảm lượng đường trong chế độ ăn khi bị bệnh.
CÁC BỆNH NẤM SÂU
(deep mycosis-nấm hệ thống systemic mycosis)
BỆNH NẤM CRYPTOCOCCOSIS
1. Căn nguyên.
Nấm cryptococcus neoformans, là loài nấm men có nang (capsule) dày. Bệnh còn được mang tên bệnh nấm blastomycose châu Âu.Cryptococcus neoformans có hai chủng là C. neoformans var.neoformans với các typ huyết thanh A và D, C . neoformans var. gattii với các typ huyết thanh B và C.
Nấm có thể gây bệnh ở người và động vật, xảy ra trên khắp thế giới. Bệnh được phát hiện liên quan đến suy giảm miễn dịch trong nhiễm HIV và ở những người dùng thuốc ức chế miễn dịch. Nấm thường gây bệnh ở da, ở phổi, hệ thần kinh.
Nấm thường gặp nhiều trong phân chim nhất là phân chim bồ câu .Trong phân chim bồ câu tích luỹ lâu ngày có nhiều nấm vì nấm có tính chịu khô tốt, ngược lại ở phân chim tươi ít gặp nấm do các vi khuẩn thối rữa làm tăng pH, C. neoformans ngừng phát triển.
2. Triệu chứng lâm sàng:
+ Viêm da:
- Thường ít gặp.Tổn thương thường xuất hiện ở chân, tay, mặt. Tổn thương là vết loét có ranh giới rõ, hình tròn hoặc đa cung, ở giữa màu đỏ tím, xung quanh có quầng màu hồng, dưới là dịch và mủ. Tổn thương có thể lan rộng rồi có thể hoại tử và thành vết loét nông, tiến triển mạn tính.
- Tổn thương dạng sẩn cục rải rác kiểu u hạt, đám sùi hoặc u cục gôm, thường ở giữa lõm, bờ có gồ cao, thường có vẩy tiết đen nhạt phủ trên vết loét có rớm dịch và máu, gôm giống như trứng cá hoại tử. Nhưng ở người nhiễm HIV thì tổn thương dạng herpes hoặc như u mềm lây.
- Tổn thương dạng áp xe mưng mủ, dò và tạo sẹo cầu, nhăn nhúm như trứng cá cụm.
+ Viêm phổi: nấm có thể xâm nhập vào phổi khi hít phải nấm và gây viêm phổi, khi đó biểu hiện sốt nhẹ, ho, tiết dịch và được phát hiện bằng X quang.
+ Viêm màng não:
Khi màng não bị nhiễm cryptococcus thì triệu chứng lâm sàng biểu hiện ban đầu là sốt nhẹ, đau đầu, buồn nôn, nôn, chóng mặt, choáng váng, loá mắt. Khi tiến triển nặng thì đau đầu dữ dội, cứng gáy, sốt cao, rối loạn nhận thức, mất trí nhớ, đôi khi phù gai mắt, liệt dây thần kinh sọ, phù nề, hôn mê, gây tử vong. Ngoài ra, nấm còn có thể gây bệnh viêm màng bụng, võng mạc, gan, xương.
3. Xét nghiệm chẩn đoán:
+ Xét nghiệm trực tiếp: nhuộm bằng mực tàu với các bệnh phẩm dịch, mủ từ tổn thương hay cặn ly tâm của dịch não tủy phát hiện tế bào nấm men nẩy chồi kích thước 8- 12 mm , có vỏ dày.Tế bào nấm có thể phát hiện trong tổ chức, khi nhuộm PAS hoặc methinamin silver.
+ Nuôi cấy: nấm có thể mọc khi bệnh phẩm cấy trên môi trường Sabouraud hay thạch máu, ở 370C khuẩn lạc dạng kem soi có nhiều tế bào nấm men với các chồi nhỏ.
4. Chẩn đoán phân biệt:
Cần chẩn đoán phân biệt với lao, các bệnh nấm hệ thống khác và ung thư.
5. Điều trị:
Thường phối hợp amphotaricin B với 5 fluorocystosin, có thể dùng fluconazol , itraconazol , ketoconazol. Đặc biệt fluconazol hay được dùng dạng viên và tiêm để điều trị bệnh nấm cryptococcus gây viêm màng não ở những bệnh nhân bị nhiễm HIV.
BỆNH NẤM SPOROTRICHOSIS
Còn gọi là bệnh gardener (bệnh của người làm vườn).
1.Căn nguyên : do nấm Sporotrichum Schenckii. Đây là một loài nấm lưỡng dạng (dimorphism) . Trong tự nhiên nấm thường sống trong đất và trên các cây vì thế dễ gây bệnh ở người làm vườn, làm ruộng và động vật gậm nhấm.
Bệnh được mô tả lần đầu tiên ở Mỹ năm 1898 bởi Schencki, sau đó Beurmann(1903) và Ramond phát hiện ở Châu Âu. Năm 1912 Beurmann và Gougerot mô tả chi tiết hình dạng của nấm. Bệnh xuất hiện khắp nơi trên thế giới,chủ yếu ở Mỹ, Mehicô, ngoài ra còn thấy ở Pháp, Liên Xô , Nam Phi. Ở Việt nam cũng xuất hiện bệnh này, thường gặp ở miền Bắc .
Bệnh nhân thường gặp ở nam giới, khoẻ mạnh, dưới 30 tuổi, ít gặp ở trẻ em, hay gặp ở những người làm vườn, làm ruộng, thợ nề, trồng hoa hoặc bán hoa, những người tiếp xúc với đất, có nhiều trường hợp lây nhiễm trong phòng thí nghiệm.
2. Triệu chứng lâm sàng.
+ Thể da- bạch huyết: là thể hay gặp nhất. Khi da, niêm mạc bị xây sát, sang chấn nấm dễ có điều kiện xâm nhập vào da lan truyền theo đường máu hay đường bạch huyết. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi. Thời gian ủ bệnh thường 20-90 ngày. Thương tổn ở da xuất hiện là những gôm, cục sẩn nổi gờ trên mặt da ở những vị trí khác nhau, nhưng phần lớn ở vùng da hở cẳng chân, cánh tay. Đặc biệt gôm sẩn mọc trên đường bạch huyết. Những gôm, sẩn cục phát triển nhanh, lúc đầu thì cứng di động không đau. Sau đó thì mềm thành mủ, thường đau và không di động. Sự hoá mủ bắt đầu từ bề mặt và điểm giữa của gôm dẫn đến gôm mềm nhũn ở giữa còn bờ viền xung quanh thì hơi cứng. Khi chích nặn có ít mủ hơi quánh, màu hơi vàng, không có kén ngòi như viêm da mủ, đây cũng là hình ảnh đặc trưng của bệnh. Tổn thương có thể tiến triển thành áp xe nhỏ hoặc áp xe lớn nằm sâu dưới da, có màu hồng nhạt, khó tự vỡ mủ. Khi chích nặn thì thường đặc quánh như dầu với màu vàng chanh.
+ Thể da đơn thuần: tổn thương da có dạng sùi như hạt cơm, hay mụn cóc, có thể thành u to nhưng không lan ra mạch bạch huyết.
+ Thể niêm mạc: tổn thương thường là u nhú dạng mụn cóc có mủ, loét thường xuất hiện ở niêm mạc mũi, họng, miệng, khi đó dễ nhầm lẫn với viêm da do vi khuẩn.
+ Thể xương khớp : bệnh nhân thượng bị đau, viêm, cứng khớp, chủ yếu khớp lớn như khớp gối,khuỷu, cổ chân, cổ tay, khớp hông và khớp vai ít bị.
Thể lan toả: những người bình thường có thể bị sporotrichosis lan toả nhưng hiếm, chủ yếu ở những người suy giảm miễn dịch. Bệnh nhân thường biểu hiện mệt mỏi, ho, sốt nhẹ, tổn thương thuỳ trên của phổi, có thể ho ra máu, dần dần tạo thành hang ở phổi. Thông thường bệnh nhân có những biểu hiện ở cơ quan khác, đặc biệt ở da và xương, có thể gặp áp xe não, viêm màng não.
3. Xét nghiệm
+ Soi trực tiếp: bệnh phẩm là mủ, dịch mủ từ tổn thương nhưng khó phát hiện . Sinh thiết mô rồi nhuộm PAS, GMS có thể thấy những thể sao" asteriod bodies", những tế bào nấm hình oval, hình điều xì gà.
Nuôi cấy : bệnh phẩm cấy vào môi trường Sabouraud ở nhiệt độ 20oC- 26 oC, nấm phát triển sau 3- 7 ngày, khuẩn lạc dạng sợi có màu thay đổi từ kem đến màu đen. Soi dưới kính có những sợi nấm mảnh,có vách ngăn, phía trên có các bào tử đỉnh hình cầu hay hình oval 2-3 x 3-6 mm đứng thành đám trông giống như bình cắm hoa. Trên môi trường thạch dịch chiết tim có 10% máu và ở 37 oC nấm có dạng nấm men tế bào kéo dài 8- 10 mm , khi nhuộm gram bắt màu thấy có hình dạng đặc biệt gần giống điều xì gà.
+ Chẩn đoán miễn dịch: test da: dùng 0,1 ml kháng nguyên sporotrichin đã được pha loãng gấp 2000 lần làm test da, đọc kết quả sau 48 giờ,đường kính nốt sẩn lớn hơn 3 cm là dương tính. Cũng có thể dùng phản ứng ngưng kết , kết tủa hoặc phản ứng cố định bổ thể để chẩn đoán.
4. Chẩn đoán:
Chẩn đoán phân biệt: với lao da, giang mai, sẩn do côn trùng, leishmaniasis, phong , Chromoblastomycosis, Actinomycosis và các bệnh nấm sâu khác.
5. Điều trị:
Đến nay vẫn được ứng dụng là uống dung dịch iodua kali liều tăng dần từ 2- 4- 6- 12 gam trong ngày, trong nhiều tuần. Với thể lan toả rộng iodua kali không có tác dụng, có thể dùng thuốc chống nấm như itraconazol, ketoconazol và amphotericin B trong điều trị.
BỆNH NẤM BLASTOMYCES BẮC MỸ
(Bệnh Gilchrist).
1. Căn nguyên : nấm Blastomyces dermatitidis, là một loài nấm lưỡng dạng. Theo Denton, Ajello và một số tác giả khác thì loài nấm này sống trong đất nhưng rất ít khi phân lập được nấm này từ đất.
Bệnh được Gilchrist mô tả đầu tiên năm 1894, đến năm 1896 Gilchrist và Stokes phân lập xác định mầm bệnh là nấm Blastomyces dermatitidis. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, đa số gặp ở người trên tuổi 40, nam gấp 10 lần ở nữ. Bệnh xuất hiện ở Mỹ , chủ yếu ở vùng thung lũng sông Misissippi, còn gặp ở các nước Bắc Mỹ như Canada. Bệnh cũng xuất hiện ở châu Phi.
2.Triệu chứng lâm sàng.
Bệnh chia ra: thể viêm da và thể phủ tạng.
2.1.Thể viêm da:
Triệu chứng lâm sàng: nấm thường xâm nhập gây ra các tổn thương ở vùng da hở như chân,tay,trán,mặt.Tổn thương trên da thường là một sẩn hay sẩn mủ nông khi bị loét hay vỡ ra làm chảy dịch có lẫn máu và mủ rồi đóng thành vảy tiết.Tổn thương có thể lan rộng thành đám u gai có đường kính vài cm.Viền tổn thương thường tròn hình cung hay vằn vèo, bờ rõ, gồ cao,thành bờ thì dựng đứng,màu đỏ tím.
Bề mặt của đám tổn thương sùi, có nhiều gai nhỏ giống như hạt cơm.Thỉnh thoảng có cục thịt sùi mềm nằm xen kẽ những đường rãnh, nặn ra mủ.Vùng trung tâm dần dần thành tổ chức sẹo còn vùng ngoài bờ tổn thương vẫn lan rộng và có những cục,những mụn mủ dạng trứng cá.Tổn thương tiến triển mạn tính không gây ngứa, không gây đau, kéo dài hàng chục năm.
+ Tổn thương trên da có thể xuất hiện nhiều đám vết tròn có gờ cao,u hạt thường là dấu hiệu của bệnh blastomyces toàn thân và hệ thống.
+ Tổn thương niêm mạc ít gặp.
2.2. Thể phủ tạng: thông thường nấm có thể gây viêm phổi khi đó có triệu chứng sốt,khó thở,hình ảnh X quang giống như lao kê,dần dần bệnh có thể lan vào da vào não vào xương sống, xương sườn, vào các phủ tạng khác,trừ ống tiêu hoá. Đây là điểm khác với bệnh nấm blastomyces nam Mỹ và bệnh nấm Histoplasma. Bệnh không được điều trị tích cực thường dẫn đến tử vong sau vài năm (90% chết sau 2 năm).
3.Xét nghiệm
+ Soi trực tiếp từ mủ trong dung dịch KOH 10% hay nhuộm gram có thể thấy nấm ở dạng tế bào nấm men có kích thước 8- 14- 24 àm.
+Nấm có thể nuôi cấy phát hiện trên môi trường Sabouraud từ các bệnh phẩm, khuẩn lạc phẳng,màu trắng, có lớp sợi men.Dưới kính hiển vi sợi nấm trắng mảnh phân nhánh,đặc biệt có những sợi nấm hình tên lửa và có bào tử dính bên cạnh sợi nấm.
+Test da và phản ứng cố định bổ thể ít có giá trị trong chẩn đoán.
+Xét nghiệm tổ chức học trong những tế bào khổng lồ dạng Langerhans có tế bào nấm dạng men.
4. Chẩn đoán phân biệt.
Chẩn đoán phân biệt với bệnh nấm blastomyces nam Mỹ,histoplasma, lao, leishmania,carcinoma(ung thư tổ chức liên kết), Paracocidioides Brasiliensis.
5.Điều trị.
Thường được điều trị bằng amphotericinB liều tối đa 50 mg/ ngày, điều trị từ 4-8 tuần. Có thể sử dụng các thuốc như: Itraconazol (sporal),ketoconazol (nizoral).
BỆNH NẤM ASPERGILLOSIS
1.Căn nguyên :
Chi Aspergillus thuộc lớp nấm bất toàn ( Fungi Imperfecti), được chia làm 7 nhóm, có khoảng 100 loài , trong đó có 20-30 loài có thể gây bệnh như A.aureus, A.flavus gây viêm da, A.niger gây viêm tai, phổi, dị ứng, hen, A.nidulans, A.versicolor,A.terreus gây viêm da ở chân, tay, viêm quanh móng, A.keratitis gây viêm giác mạc, đặc biệt A.fumigatus và A.flavus hay gây viêm phổi.
Phương thức gây bệnh của Aspergillus là đầu tiên có thể gây bệnh ở da sau đó tiến triển gây bệnh hệ thống hoặc ngược lại. Trong một số trường hợp nấm gây bệnh cơ hội có khi có điều kiện thuận lợi như ở người nhiễm HIV/AIDS. .
2. Triệu chứng lâm sàng:
+ Gây viêm da: Tổn thương là những đám đỏ, đôi khi hình thành các dát trắng bong vẩy cám như lang ben, hoặc có hình đa cung như nấm da. Trong một số trường hợp xuất hiện các gôm, sùi, áp xe hay vết loét ở da. Người bị AIDS thường hay bị A.fumigatus và A.flavus gây bệnh nấm ở da và ở đầu.
+ Nấm tai : nấm thường gây bệnh ở ống tai, ống tai sưng nề, vẩy xuất hiện nhiều, hơi ẩm, rất ngứa. Nấm có thể lan ra vành tai, hoặc lan vào trong màng nhĩ, nếu không điều trị kịp thời sẽ gây thủng màng nhĩ. Nấm Aspergillus còn gây bệnh viêm xoang.
+ Nấm mắt : Aspergillus thường gây viêm hốc mắt rối lan ra nhãn cầu gây viêm loét giác mạc, viêm kết mạc và tuyến lệ.
Nấm gây bệnh ở hệ thần kinh : thông qua các hốc ở mặt hay hốc sọ, nấm có thể xâm nhập vào bên trong gây viêm tiểu não, não.
Nấm gây bệnh ở lưỡi với bệnh lưỡi " lông đen", niêm mạc lưỡi thường có màu đen với các nhung mao đen.
Nấm gây bệnh ở tim: thường gây viêm màng trong tim, viêm cơ tim.
Nấm gây bệnh ở xương : viêm xương, viêm màng xương.
Nấm gây bệnh ở hệ tiết niệu: chủ yếu là gây viêm bàng quang, viêm niệu quản.
+ Viêm phổi: ở phổi thường đầu tiên gây viêm phế quản với triệu chứng xuất tiết nhiều đờm, khò khè, trong dịch phế quản có nhiều tế bào nấm, bệnh nhân thường sốt, khó thở, ho, người xanh xao rối dẫn đến viêm phổi với những triệu chứng giống như lao phổi. Bệnh nhân có thể dẫn đến viêm màng phổi, viêm mủ màng phổi rồi lan sang tim. Ngoài ra nấm còn có thể phát triển trong một hang sẵn có tạo thành bướu nấm (funguns ball) ở phôỉ.
Hen dị ứng do Aspergillus: khi hít phải bào tử trong không khí thường gây ra các triệu chứng hen phế quản dị ứng như khó thở, sốt, ho khan, sút cân, phổi có ran.
3. Xét nghiệm:
+ Soi trực tiếp: Bệnh phẩm là vảy da soi trực tiếp trong dung dịch KOH 20% tìm sợi nám, các bệnh phẩm khác ( dịch mủ, đờm...) nhuộm gram soi tìm sợi nấm, bào tử. Nếu là nấm nội tạng cần sinh thiết chẩn đoán mô bệnh học, nhuộm PAS, Methenamine silver thấy các sợi nấm có vách ngăn, phân nhánh thành hai, tạo góc 45o, đôi khi có thể thấy bộ phận sinh bào tử của nấm.
+ Nuôi cấy: trên môi trường thích hợp để phát hiện nhiễm nấm và định loại nấm. Một vài loài nhậy cảm với cycheximide. Môi trường chuẩn để định loại phần lớn Aspergillus là Czapek (3% sucrose) và malt extract agar.
Thành phần môi trường Czapek - Dox:
NaNO3 3 gam.
K2HPO4 1 gam.
MgSO4H2O 0,5 gam.
KCL 0,5 gam.
FeSO4 0,01 gam.
Đường kính 30 gam.
Thạch 15 gam.
Nước vừa đủ 1000 ml.
Nuôi cấy ở nhiệt độ phòng, thời gian 7 ngày.
4. Chẩn đoán phân biệt : ở da cần chẩn đoán phân biệt với sẩn ngứa do côn trùng, viêm da mủ và các bệnh nấm da khác. Bệnh nấm Aspergillus hệ thống cần phân biệt với các bệnh nấm hệ thống khác như blastomycosis, histoplasmosis, coccidioidomycosis...
5. Điều trị: thường dùng các thuốc uống như ketoconazol, itraconazol voriconazol , ngoài ra có thể dùng amphotericin B điều trị bệnh nấm hệ thống. Tại chỗ tuỳ trường hợp có thể bôi kem, mỡ có chứa dẫn chất imidazol.
BỆNH NẤM PENICILLIOSIS.
1. Căn nguyên .
Do một số loài penicillium gây nên như P.minatum ; P.citrorosum; P.lengues; P.glaucum ; P.album ; P.mucedo ; P.racemosus; P.exitrosus... thường gây viêm da, móng tay, viêm tai, đường hô hấp,phổi.
Đặc biệt gần đây loài nấm penicillium marneffei thường xuất hiện nhiều ở bệnh nhân nhiễm HIV / AIDS và được mang tên bệnh đột xuất bất ngờ (emerging pa thogens).Đây là một loài nấm lưỡng dạng (dimorphism), phân lập được lần đầu tiên từ tổn thương gan ở chuột tre (Rhizomys sinensis), một loài động vật rất phổ biến ở Đông Nam Á. Thông thường loài nấm này ít gây bệnh, nhưng nó lại nổi rộ lên gây bệnh ở những người nhiễm HIV, đặc biệt giai đoạn AIDS. Bệnh thường gặp ở vùng Đông Nam á, gần đây có những thông báo ca bệnh ở nam Trung quốc , Hông Kông, Lào, Indonesia ... ở Việt Nam cũng gặp một số trường hợp bệnh nhân AIDS mắc bệnh do P. marneffei.
2.Triệu chứng lâm sàng.
Cũng như nấm lưỡng dạng có thể gây bệnh lưới nội mô hệ thống ở bệnh nhân HIV, nấm gây viêm da, tạo nên ở da nốt sẩn có nút sừng ở trung tâm giống như bệnh histoplasmosis.ở những người dễ nhậy cảm bị nhiễm nấm thì sốt, giảm trọng lượng, nổi hạch, gan to, lách to, ho khó thở, viêm màng tim, và viêm màng bụng có thể xẩy ra.
Tổn thương ở da, ở cơ cũng có thể xuất hiện những nốt sẩn giống như u mềm lây, dạng trứng cá mụn mủ,cục, hạt, loét và có áp xe dưới da.
3.Xét nghiệm: P. marneffei là loại nấm lưỡng dạng, hình thể khác nhau khi nuôi cấy ở nhiệt độ khác nhau.
Ở nhiệt độ 37 °C hoặc trong tổ chức: nấm có dạng nấm men hình oval ( trong tế bào mô và đại thực bào),những tế bào nẩy mầm rất đặc biệt có vách ngăn ở giữa,đây chính là điểm khác với nấm men thực.
Nuôi cấy trên môi trường Sabouraud ở 25 °C khuẩn lạc ban đầu gần như dạng bột mầu xám, sau đó thành mầu xanh vàng hoặc hồng xám, mặt dưới của khuẩn lạc thì có mầu đỏ khuyếch tán vào môi trường. Khi soi dưới kính hiển vi thì trên những sợi nấm có vách ngăn sẽ có bào tử hình thành đính trên cuống dạng hình chai.
Loài nấm này có nhiều độc tố và có thể gây bệnh ở trong phòng thí nghiệm, cho nên người ta cần lưu ý sự nhiễm của nấm này.
4. Chẩn đoán phân biệt : cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh nám khác, sẩn ngứa do côn trùng, lao da.
5. Điều trị.
Khi bị nhiễm bệnh cấp tính có thể dùng amphotericin B .Tuy nhiên cũng có thể dùng itraconazol và ketoconazol cũng có tác dụng. Itraconazol có thể dùng điều trị duy trì.
BỆNH NẤM BLASTOMYCOSIS NAM MỸ
Tên khác: paracoccidioidomycosis. Bệnh do Lutz (1908) phát hiện lần đầu tiên với tên bệnh là Lutz - Spendora- Almeida, đến 1912 tác giả Spendora đã tìm hiểu rõ căn nguyên gây bệnh . Bệnh xuất hiện nhiều ở các nước Nam Mỹ như Brasil, Chilê, Achentina, Urugoay, bệnh cũng xuất hiện ở Châu Âu, 90% trường hợp bệnh nhân là nam giới, thường ở lứa tuổi 40-50, thường gặp ở người làm nghề nông.
1. Căn nguyên : là nấm Paracocidioidess Brasiliensis, ngoài ra còn hai loài khác là P.teanis và P.cerebriform. Almeida đã xếp loài này vào chi Paracocidioides. Năm 1941 Conant và Howel đặt tên nấm là Blastomyces Brasiliensis. Loài này có thể tìm thấy trong đất.
2. Triệu chứng lâm sàng.
+ Bệnh ở niêm mạc : thường gặp ở miệng, mũi, họng. Tổn thương ban đầu là những u hạt, sùi trên niêm mạc miệng, lưỡi từ đó lan dần ra tạo thành mảng trợt hay loét, có xen kẽ những đốm đỏ xuất huyết và những đốm màu vàng nhạt. Bệnh có thể lan đến vòm miệng, lưỡi gà và thanh đới. Khi bị bệnh bệnh nhân hay tăng tiết nước bọt, chảy nhiều dãi.
+ Bệnh ở da: bệnh hay gặp ở mặt, đầu chi hoặc ở thân mình. Tổn thương thường là các sẩn, sẩn mủ, u loét dần dần trở thành u gai, sùi dày sừng. Tổ chức dưới da cũng bị viêm và dẫn đến loét hoại tử sâu, có viền bờ dày tăng sừng. Bệnh nhân thường không đau hoặc đau ít.
+ Bệnh ở phổi : thường có các triệu chứng như ho, khản cổ, khó thở,khò khè,không sốt. Bệnh cần được kiểm tra bằng chụp X quang, 80% trường hợp phát hiện hình ảnh thâm nhiễm, hình ảnh hạt kê, tổn thương màng phổi.
Nấm P.Brasiliensis còn có thể gây bệnh ở đường tiêu hoá như ở ruột thừa, manh tràng, trực tràng, hay gây viêm xương hoặc viêm thần kinh trung ương. Khi nhiễm nấm toàn thân bệnh nhân có thể tử vong sau vài tháng, khi bị ở da, niêm mạc, hoặc có thể sau vài năm nếu không phát hiện và điều trị kịp thời.
3. Xét nghiệm
Soi trực tiếp :bệnh phẩm là dịch từ các u, hạch, dịch niêm mạc hay đờm soi trong KOH 20% sẽ phát hiện thấy các tế bào nấm men, kích thước lớn đường kính 10-30mm, có chồi kích thước 1-2 mm. Có thể nhuộm giêm sa hay nhuộm gram thành tế bào nấm bắt mầu , tế bào to, mọc các chồi nhỏ.
Nuôi cấy : đây là một loài nấm lưỡng dạng (dimorphism) nên ta có thể nuôi cấy bệnh phẩm ở hai nhiệt khác nhau. Khi nuôi cấy ở môi trường Sabouraud, môi trường thạch máu, môi trường socola ở nhiệt độ phòng sau 20- 40 ngày khuẩn lạc dạng sợi mịn phát triển, có màu trắng sau chuyển sang màu nâu, quan sát vi thể thấy trên các sợi nấm có bào tử có cuống đính ở cạnh sợi nấm, kích thước bào tử 2,5-6 mm. bào tử màng dày cũng xuất hiện, đôi khi mặt khuẩn lạc hơi nhăn và thỉnh thoảng tạo màu đỏ, sau một thời gian mất màu. Khi nuôi cấy ở nhiệt độ 370 C nấm mọc chậm, có dạng khuẩn lạc nấm men, kiểm tra vi thể tế bào nấm có hình tròn, đường kính 10-16mm, xung quanh tế bào "mẹ" này có các "tế bào con" nẩy chồi gắn vào, điển hình có dạng như " bánh lái", từ những tế bào con này phát triển tiếp tục mọc chồi tạo thành một chuỗi tế bào. Từ tế bào mẹ có thể xuất hiện 200- 300 tế bào chồi. Giữa pha sợi và pha nấm men thay đổi dễ dàng khi nhiệt độ nuôi cấy thay đổi.
4. Chẩn đoán phân biệt : cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh nấm hệ thống khác, lao phổi, lao hạch.
5. Điều trị :
Thường sử dụng amphotericin B. Ngày nay có thể dùng itraconazol, thuốc có tác dụng và ít độc hại hơn.
BỆNH NẤM MYCETOMA ( MADURAMYCOSIS)
Là một nhiễm trùng tổ chức dưới da do một số loài nấm và vi khuẩn gây ra khi chúng nhiễm vào sau một chấn thương nhỏ. Các tác nhân này phát triển chậm, tạo thành một đám đan kết chặt chẽ với nhau thành các hạt( granule), có thể lan vào tổ chức liên kết (xương).Tổn thương thường gặp ở chân và được gọi là bàn chân Madura " Madura foot".
Bệnh hay gặp ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đớí,cũng gặp ở vùng ôn đới. Bệnh hay gặp ở người làm ruộng,nương rẫy,người chăn gia súc, đi chân đất, hay gặp ở nam hơn nữ ( tỷ lệ 3/1 đến 5/1), tuổi 20- 45, những người sống ở nông thôn hay bị những gai đâm, vết xước nhỏ tạo điều kiện cho những bào tử ở không khí hay ở gai xâm nhập vào cơ thể. Bệnh thường gặp ở chân, có thể ở tay, ngực, mông.
1. Căn nguyên:
Các loại vi khuẩn: Actinomadura madurae, A.pelletieri, Streptomyces somaliensis, Nocardia asteroides, N.brasiliensis, N.otitidisvarum, Nocardiopsis dassonvillei.
Các loại nấm thực : Madurella mycetomatis, M.grisea, Pseudallescheria boydii, Acremonium kiliense, A.recifei, Leptosphaeria tompkinsii, L.senegalensis, Exophiala jeanselmei, Neotestudina rosatii, Pyrenochaeta romeroi, Curvularia lunata, Aspergillus nidulans, A.flavus, Fusarium monniliforme, F.solani, Corynespora cassicola, Cylindrocarpon destructans, Plenodomus avaramii, Polycytella hominis.
2. Triệu chứng lâm sàng:
Khi da chân bị xây sát nấm dễ xâm nhập gây nên tổn thương. Khoảng 70% trường hợp bệnh ở chân, chân trái nhiều hơn chân phải. Tổn thương cơ bản là những đám hạt, cục to nhỏ không đều, gồ ghề trên mặt da kèm theo sưng,phù nề vùng da tổn thương, sau đó dần dần xuất hiện các lỗ dò chảy dịch vàng lẫn mủ đục. Đôi khi có các hạt màu vàng, trắng, nâu, đen hay hơi đỏ phụ thuộc vào từng loại nấm gây bệnh. Khi không điều trị kịp thời bệnh sẽ lan xuống sâu, vào xương dẫn đến xốp xương. Bệnh có thể kéo dài hàng chục năm làm cho bệnh nhân bị suy kiệt dẫn đến tử vong.
3. Xét nghiệm :
Soi trực tiếp: lấy dịch mủ soi trong dung dịch KOH 20% thấy các đám hạt đường kính có thể 15mm, hình tròn. Nếu thấy các sợi nấm mảnh, dường kính dưới 1 mm thì đó là vi khuẩn Actinomyces, nếu thấy các sợi nấn to , thô, đường kính lơn 2-4 mm thì đó là nấm nhóm Eumycetes.
Mô học : sinh thiết tổ chức nơi tổn thương rồi nhuộm PAS hoặc methenamin silver để phát hiện nấm.
Nuôi cấy : nếu như soi trực tiếp phát hiện nấm Eucomycetis, thì cấy lấy các hạt nấm đem rửa trong dung dịch nước muối và kháng sinh rồi cấy vào môi trương Sabouraud có kháng sinh, nhưng không có cycloheximid, để ở nhiệt độ 250 C và 370 C, tốt nhất là lấy được bệnh phẩm sinh thiết ở lớp sâu để tránh tạp khuẩn. Các nấm gây bệnh thuộc lớp nấm bất toàn ( Fungi Imperfecti) hoặc nấm túi (Ascomycetes, nấm mọc chậm, tạo bào tử túi và bào tử đính ( conidia) moi trường nghèo chất dinh dưỡng như môi trường bột ngô, môi trường thạch- khoai tây, dextrose kích thích tạo bào tử. Nếu soi thấy vi khuẩn, môi trường nuôi cấy có thể là thạch máu, Sabouraud hoặc môi trường dịch chiết tim (BHI) , môi trường Lowenstein, nuôi cấy ở nhiệt độ 25 và 370 C.
4. Chẩn đoán phân biệt : với lao da, u da, các bệnh nấm khác.
5. Điều trị :
Nếu mầm bệnh là vi khuẩn Actinomycetes thì dùng kháng sinh như sulfonamide, dapson, co-trimoxazole,streptomycin. Các dẫn xuất penixilin hay sulfadiazin 3-8 gam/ ngày trong 3- 4 tháng. Nếu mầm bệnh là nấm Eumycetes dùng các thuốc chống nấm nhóm imidazol như ketoconazol, itraconazol, voriconazol. Trong một số trường hợp kết hợp ngoại khoa cắt bỏ phần hoại tử, thậm chí phải
cắt cụt chân kết hợp dùng thuốc.
BỆNH NẤM ACTINOMYCOSIS
1. Căn nguyên :
Bệnh được Nocard và Lucet phát hiện năm 1888. Căn nguyên gây bệnh là một số loài Actinomyces như A. wolfisrali và Actinomyces là vi sinh vật nằm giữa vi khuẩn và nấm, hay tạo ra các sợi nấm giả, đường kính rất nhỏ (dưới 1mm), có khi tạo ra các sợi dạng tia nên có tên là " nấm tia" hay xạ khuẩn, bắt mầu gam (+). Actinomyces thường sống hiếm khí, nhậy cảm với một số kháng sinh, thường có mặt ở thực vật, đất, nước. Trên cơ thể người thường xuất hiện ở da,miệng, gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi.
2. Triệu chứng lâm sàng :
Bệnh ở da, niêm mạc : khi niêm mạc hay da có vi chấn xây sát Actinomyces dễ lây nhiễm và phát triển gây bệnh. Mầm bệnh có thể qua thức ăn, ngũ cốc gây bệnh ở niêm mạc miệng, lưỡi, họng, thực quản... Mặt khác mầm bệnh có thể thường trú ở răng sâu, cao răng hay răng giả, khi có điều kiện thuận lợi ( nhổ răng) bệnh xuất hiện.
Bệnh ở vùng cổ, mặt,ngực, bụng : tổn thương da ở các vùng này thường thứ phát sau các ổ viêm tổ chức dưới da ở cổ hay hàm. Ban đầu xuất hiện một hay nhiều cục ở dưới da, thường cứng chắc, không đau, gắn với nền sâu, sau dính với mặt da trên, thường có màu hồng, sau dần dần thành gôm mềm, nhũn ở giữa và dò mủ. Các cục có thể cụm lại thành một mảng, màu đỏ tía, có chỗ mềm có chỗ cứng chắc, xuất hiện những lỗ dò ngóc ngách chảy dịch nhiều, có mủ và máu. Trong mủ thường có các hạt nhỏ, lổn nhổn màu vàng đục. Bệnh thường tiến triển chậm, dai dẳng, không điều trị kịp thời bệnh ngày càng lan rộng, ăn sâu xuống đến tận xương có thể phát hiện bằng X quang, lan vào phủ tạng, đặc biệt không có hạch.
Actinomyces ở phổi : có khoảng 10% bệnh nhân bị nấm ở phổi do hít phải mầm bệnh. Nấm phát triển ở vùng rốn phổi, từ đây bệnh có thể lan ra màng phổi rồi ra da ngực. Phát bệnh bệnh nhân thường bị sốt, khó thở, suy hô hấp. Tổn thương phát triển làm da ngực bị sưng nề, xuất hiện các lỗ dò chảy dịch trong có lẫn các " hạt nấm " nhỏ, màu vàng. Phát hiện bệnh có thể chụp X quang, tổn thương thường ở nửa dưới của phổi, ở rốn phổi, đôi khi có tràn dịch màng phổi.
Bệnh nấm đường tiêu hoá: mầm bệnh xâm nhập qua đường tiêu hoá. Actinomyces hay tập trung ở vùng ít nhu động như manh tràng, ruột thừa, dễ gây viêm những cơ quan này.
Ngoài ra nấm còn có thể gây bệnh ở thận, gan, bệnh phụ khoa, hệ thần kinh.
3. Xét nghiệm :
Soi trực tiếp : bệnh phẩm là dịch từ lỗ dò, dịch niêm mạc nơi nghi nhiễm nấm, soi trong KOH 20% hay nhuộm gram. Thấy các " hạt nấm " gồm nhiều sợi mảnh, nhỏ chằng chịt như rễ cây, xung quanh có các sợi toả ra như các tia. Đường kính các sợi thường nhỏ dưới 1 mm, không có vách ngăn, bắt màu tím gram (+).
Nuôi cấy : bệnh phẩm có thể nuôi cấy ở trên môi trường BHI, môi trường Bouillon, để ở nhiệt độ 370 C trong điều kiện yếm khí, nấm có thể phát triển sau 8- 10 ngày.
Mô học: có thể sinh thiết khi nghi nhiễm nấm ở các cơ quan, nhuộm PAS hay hematoxylin- eosin sẽ quan sát thấy nấm.
4. Chẩn đoán phân biệt : cần chẩn đoán phân biệt với cốt tuỷ viêm xương hàm, lao, viêm ruột thừa, u ác tính.
5. Điều trị :
Có thể dùng các loại kháng sinh như penixilin hàng triệu đơn vị trong 30- 50 ngày. Có thể kết hợp dùng metronidazol 0,25g x 3 viên/ ngày hàng tháng. Có thể kết hợp phẫu thuật và chiếu tia rơn ghen. Trong điều trị cổ điển thường dùng kaliiodua uống 6-12 gam/ ngày hoặc kết hợp sulfamid với kháng sinh.
CÁC PHƯƠNG PHÁP XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN NẤM GÂY BỆNH (Mycosis diagnosis).
1. Phương pháp xét nghiệm trực tiếp soi nấm.
1.1. Yêu cầu .
Xét nghiệm nấm gây bệnh cũng tương tự như xét nghiệm vi khuẩn gây bệnh. Những bệnh nhân nghi ngờ do nấm gây nên được tiến hành xét nghiệm trực tiếp soi dưới kính hiển vi hoặc được nuôi cấy trên các môi trường thích hợp để xác định tính chất sinh hoá học từ đó định rõ loài nấm gây bệnh.
Trong công tác xét nghiệm nấm cần lưu ý điều kiện vệ sinh dụng cụ và không khí xung quanh ở nới làm xét nghiệm , vì trong không khí các bào tử và sợi nấm tạp thường xuất hiện. Nếu không chú ý vệ sinh sạch sẽ dễ lây nhiễm ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.
Một số yếu tố có liên quan đến kết quả xét nghiệm.
+ Bệnh phẩm : trước khi làm xét nghiệm bệnh nhân phải ngừng thuốc điều trị kháng nấm ít nhất 1 - 2 tuần.
+ Nếu không ngừng thuốc thì nấm tạm thời " bién mất" " thể lặn" làm cho kỹ thuật viên tìm không ra.
+ Các thuốc mỡ tồn tại trên da khiến trong vi trường có nhiều hạt mỡ khó xem, làm cản trở tầm nhìn của người quan sát.
+ Các thuốc màu làm cho da bị nhuộm màu, xanh hay tím, đỏ, làm che khuất cấu trúc của vi nấm.
+ Người quan sát soi phải có định hướng trên cơ sở tóm tắt của lâm sàng.
Phương pháp tiến hành .
+ Lấy bệnh phẩm : đầu tiên quan sát tìm tổn thương rồi dùng bông cồn 70o sát khuẩn qua để loại trừ bụi, chất bẩn. Sau dùng dao cạo đã hơ vô trùng trên ngọn đèn cồn, cạo lấy vẩy da hay chất sừng vào phiến kính sạch, cũng đã được hơ trên ngọn đèn cồn. Bệnh phẩm nếu là tóc, lông thì dùng kéo để cắt ngắn khoảng 0,1-1 cm dồn bệnh phẩm vào giữa lam kính.
+ Tiếp theo ta nhỏ 1-2 giọt dung dịch KOH 20% vào giữa bệnh phẩm. Sau đặt lên trên bệnh phẩm 1 lam kính sạch vô trùng, dùng đầu mũi dao ấn nhẹ xuống lam để dàn đều bệnh phẩm trên lam kính, để nhiệt độ phòng 30 phút rồi soi hoặc hơ lam kính bệnh phẩm trên ngọn đèn cồn, ta hơ đi hơ lại 1 - 2 lần làm cho nóng, không để sủi bọt để nguội rồi soi.
Chú ý : Khi soi quan sát bệnh phẩm phải đều khắp các vi trường để tìm sợi nấm., đoạn sợi nấm hay bào tử đốt có thể bộc lộ trên các đám tế bào sừng của tổ chức da hoặc đứng riêng rẽ tách rời khỏi tế bào da, cần phân biệt sợi nấm với các sợi khác. Sợi nấm thường cong queo, ngoằn ngoèo mềm mại có khi phân nhánh và chiết quang hơn, thành sợi nấm thường dầy trông giống sợi " miến ăn".
1.2. Xét nghiệm nấm bằng phương pháp nhuộm Gram .
Bệnh phẩm cần xét nghiệm nấm có thể là đờm, dịch niêm mạc lưỡi, dịch họng, dịch phế quản, mủ tai, dử mắt, dịch não tuỷ, phân, dịch âm đạo, niệu đạo , máu hoặc ở các nơi viêm nhiễm khác ở các tổ chức trong cơ thể hay ở ngoài da.
Cách tiến hành:
Dùng que bông hoặc que cấy lấy bệnh phẩm phết lên lam kính sạch đã hơ vô trùng trên ngọn đèn cồn để khô cố định ở nhiệt độ phòng hay hơ nóng, rồi tiến hành nhuộm Gram như nhuộm vi khuẩn.
1.3.Soi tiêu bản và đánh giá kết quả.
Tiêu bản nhuộm xong để khô rồi soi dưới vật kính dầu, quan sát trên vi trường nếu có tế bào nấm thì thấy nấm men bắt mầu tím ( gram dương ) và có hình cầu, hình ô van, có khi thấy dạng mọc chồi với màu tím đậm. Nếu là nấm sợi thường đoạn sợi mềm mại hơi cong có nhiều hình có khi thấy bào tử nấm.
Chú ý : cần phân biệt với các tế bào khác có trong bệnh phẩm .
Trường hợp nghi ngờ thì phải kết hợp với kết quả nuôi cấy nấm.
Cấy nấm gây bệnh.
Phương pháp soi trực tiếp nấm từ bệnh phẩm chỉ cho ta biết bệnh phẩm có nấm hay không có nấm, muốn biết nấm đó thuốc loài giống nào thì ta cần phải nuôi cấy bệnh phẩm trên một số môi trường thích hợp để nấm phát triển thành những khuẩn lạc nấm, rồi dựa vào các đặc điểm đại thể và vi thể để xác định loài. Một số trường hợp phải dựa vào tính chất sinh hoá học của từng loại mới định được loài nấm theo khoá phân loại. Thường người ta lấy bệnh phẩm nghi nhiễm nấm cấy vào một số môi trường như môi trường malata, môi trường Sabouraud, môi trường Czapex Dox, môi trường huyết tương.
Cấy nấm da.
Người ta thường cấy vào môi trường Sabouraud có thành phần pépton 10 gam, glucoza 40 gam, chlorocid 100 mg, actidion 500 mg, thạch 20 gam, nước cất vừa đủ 1000 ml. Trong môi trường trên có chlorocit nhằm mục đích ức chế một số vi khuẩn, còn actidion ( cyclohexamit) là một kháng sinh có khả năng ức chế một số tạp nấm thường có mặt trong không khí hay lây nhiễm vào bệnh phẩm. Với môi trường trên được ứng dụng để nuôi cấy định loài nấm da. Bệnh phẩm là các vẩy da được lấy từ bệnh nhân cấy vào môi trường rôi đặt vào tủ ấm 28o C trong khoảng 10- 14 ngày, nấm có trong bệnh phẩm sẽ phát triển thành khuẩn lạc. dựa vào màu sắc khuẩn lạc, thể chát của khuẩn lạc và vi thể ( bào tử lớn, bào tử nhỏ ) để xác định giống loài nấm. Một số trường hợp phải nuôi cấy tiếp trên môi trường lựa chọn để xem tính chất, đặc điểm sinh hoá học rồi dựa vào khoá phân loại để định loài nấm.
Cấy một số loài nấm men.
Trong việc xác định một số loài nấm men như các loài Candida, người ta thường cấy bệnh phẩm vào môi trường Sabouraud, môi trường malata, môi trường huyết tương có thêm kháng sinh, để ở nhiệt độ 28o C, thường sau vài ngày nấm phát triển thành khuẩn lạc, khuẩn lạc nấm men thường giống khuẩn lạc vi khuẩn có dạng kem, dựa vào tính chất khuẩn lạc, và đặc điểm vi thể cùng với tính chất của tứng loài đồng hoá, lên men các đường khác nhau mà người ta định loại. Trong các loại nấm men Candida gây bệnh thì người ta thường thấy loài Candida albicans chiếm tỷ lệ nhiều hơn cả so với các loài Candida khác. Gần đây chúng tôi sử dụng môi trường huyết tương đơn giản để nuôi cấy xác định nhanh nấm Candida dặc biệt là Candida Albicanso.
Môi trường huyết tương.
Huyết tương lấy từ máu người 100 ml bổ xung vào 100 mg clorocid rồi đóng vào ống nghiệm vô trùng , mỗi ống 0,5 ml, được kiểm tra vô trùng về vi khuẩn và nấm . Sau đó cấy bệnh phẩm trực tiếp vào môi trường trên cồn đặt ở nhiệt độ 37o C sau 24 giờ có thể kiểm tra soi trực tiếp dưới kính hiển vi nếu có nấm Candida sẽ xuất hiện tế bào hình trứng, hính cầu và thường có chồi nhỏ dạng hình số tám, một đầu nhỏ ( hình con lật đật), loài Candida albicans thì có xuất hiện dạng chồi ống giống " mầm giá".
2. Chẩn đoán nấm gây bệnh bằng phương pháp huyết thanh.
Nguyên lý : cũng như vi khuẩn, vi rút trong chẩn đoán một số loài nấm gây bệnh hệ thống người ta cũng ứng dụng phương pháp chẩn đoán huyết thanh . Đặc biệt ở các loài nấm gây bệnh hệ thống thì trong cơ thể người hình thành các kháng thể có trong huyết thanh. Ở các loài nấm này do cấu trúc của kháng nguyên khác nhau nên tạo ra các kháng thể đặc hiệu riêng biệt như các loài nấm Candida Albicans, Aspergillus, Histoplasma capsulatum, Blastomyces dermatitidis, còn đối với nấm da thì ứng dụng phương pháp trên chưa được phổ biến vì tính đặc hiệu của kháng nguyên kém, mặt khác còn phụ thuộc vào khả năng đường thâm nhập của mầm bệnh.
Trong chẩn đoán huyết thanh đối với nấm gây bệnh thường sử dụng phương pháp khuyếch tán trên thạch ( diffussion) và phương pháp điện di miễn dịch ( Immunoelectrophoressis), hoặc phương pháp miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IFA).
3. Chẩn đoán nấm gây bệnh bằng phương pháp gây bệnh trên động vật.
Đây là phương pháp cũng được dùng trong chẩn đoán nấm gây bệnh. Nguyên tắc của phương pháp là dùng động vật khoẻ mạnh làm thực nghiệm như chuột lang, chuột nhắt trắng, thỏ... Những trường hợp bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh nấm cần chẩn đoán xác định, thì người ta lấy một ít bệnh phẩm từ nơi nghi ngờ nhiễm trên cơ thể bệnh nhân, rồi nghiền trong dụng cụ vô trùng với một ít nước muối sinh lý 9 %o vô trùng có chứa kháng sinh tạo thành một hỗn dịch. Sau đó tiêm hỗn dịch vào một trong các cơ quan của động vật như : tinh hoàn, tĩnh mạch, ổ bụng, dưới da v.v... và theo dõi động vật một thời gian, sau đó mổ động vật quan sát các cơ quan tổ chức để kết luận và làm tiêu bản xét nghiệm nấm ( giaỉ phẫu bệnh lý, soi trực tiếp , cấy nấm v.v...) . Trường hợp bệnh phẩm là vẩy da thì người ta cạo hoặc nhổ lông ở động vật, rồi dùng giấy ráp mịn cọ nhẹ trên đám da, tiếp đó áp bệnh phẩm vẩy da vào và băng lại theo dõi hàng ngày. Nếu trong bệnh phẩm có nấm da thì sẽ gây bệnh ngoài da ở động vật thực nghiệm.da.
THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH NẤM.
1. Các thuốc nhóm polyene.
Có khoảng 200 loại thuốc thuộc nhóm này, thuốc có cấu tạo từ 4-7 liên kết đôi, một vòng cyclic nội phân tử và có cùng một cơ chế tác dụng. Tác dụng của thuốc phụ thuộc vào các nối đôi, đây là thành phần kỵ nước gắn kết với một số chất sterol.Trong đó có Ergosterol là một thành phần cơ bản của màng tế bào nấm, tạo ra các kênh ( chanel) ở màng tế bào, làm tăng tính thấm màng tế bào, làm cho các dòng ion dịch chuyển (kali,glucoza đi ra, natri đi vào ). Một số thuốc thông dụng nhất của nhóm này là Amphotericin B, Nystatin, Natamycin.
1. 1.Amphotericin B (fungizon)
Amphoterincin B do một loài Streptomyces nodosus sản sinh ra.Amphotericin B có 7 cầu nối đôi trong phân tử, những cầu nối này làm cho thuốc hấp thu mạnh tia cực tím (UV) , do đó nhậy cảm với ánh sáng. Đây là một loại thuốc rất độc nên gần đây đã có dạng bọc thuốc giữa hai lớp phospholipid để làm giảm độc tính.
Phổ tác dụng: thuốc có tác dụng với các bệnh nấm như Candidiasis, Cryptococcosis, Histoplasmosis, Blastomycosis, Paracoccidiomycosis, Coccidiomycosis aspergillosis, Sporotrichosis da, Mucormycosis, thuốc còn có tác dụng với Leishmaniasis thể da- niêm mạc nhưng chỉ dùng trong những trường hợp bệnh kháng với thuốc nhóm antimoan.
Độc tính : các phản ứng có thể chia thành cấp và mạn . Phản ứng cấp tính có thể có sốt, giảm huyết áp, khó thở , rét run, thường giảm 4 giờ sau ngừng thuốc, có thể phòng những phản ứng này bằng cách dùng Corticoid ngay khi bắt đầu truyền dịch. Phản ứng mạn tính gồm tăng nitơ máu, giảm kali, magie máu, thiếu máu, toan hoá ống thận, đau đầu, buồn nôn, nôn, mệt mỏi, giảm cân, đôi khi thấy giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu.
Thuốc có dạng tiêm truyền: 1 ống 50 mg ( 50. 000 đơn vị), liều thông thường 0, 25 mg / 1 kg thể trọng. Ngoài ra có dạng viên và dạng mỡ.
1.2. Nystatin (fungicidin, Mycostatin, Monoral, Nystan).
Nystatin được tổng hợp từ loài xạ khuẩn Streptomyces noursei. Là thuốc nhóm polyene có cơ chế tác dụng như Amphoaericin B. Thuốc có tác dụng với nấm men, được chỉ định trong những trường hợp Candidiasis da, niêm mạc.
Khi dùng tại chỗ thuốc dung nạp tốt nhưng đôi khi gây tăng mẫn cảm . Không dùng điều trị nấm hệ thống do thuốc không tan trong nước., không hấp thu vào tổ chức và rất độc khi dùng đường tiêm.
1.3. Pimaricin (Natamycin):
Pimaricin được sinh tổng hợp từ loài Streptomyces natalensis. Thuốc có tác dụng làm hư màng tế bào nấm. Dùng điều trị các bệnh nấm như: Candidiasis, Aspergillosis, có tác dụng với cả Trichomonas, thuốc được dùng ở dạng viên, tiêm, aerosol, mỡ.
1.4. Candicidin.
Candicidin được sinh tổng hợp từ Streptomyces griseus. Thuốc có tác dụng tương tự như nystatin dùng trong điều trị các bệnh nấm. Thuốc có dạng viên, kem và aerosol.
1.5. Kháng sinh chống nấm nguồn gốc nấm mốc- Griseofulvin :
Griseofulvin được sinh tổng hợp từ Penicillium griseofulvin. Thuốc có dạng viên, kem. Dạng uống hấp thu tốt sau khi ăn.
Cơ chế tác dụng: thuốc ức chế quá trình phân chia của tế bào nấm, có lẽ là làm rối loạn đến quá trình phân cực của vi ống ( Microtubule) và tổn thương tới phân bào ( Mitotic). Thuốc có tác dụng diệt nấm, là một kháng sinh điều trị nấm da. Theo các tác giả Griseofulvin có tác dụng làm quăn sợi nấm, làm thoái hoá nguyên sinh chất, làm rối loạn hệ thống men của tế bào nấm dẫn đến làm ngừng sự phát triển của nấm.
Phổ tác dụng: có tác dụng với nấm da, không tác dụng với nấm lang ben, Candidiasis da và Candida hệ thống. Với nấm móng thuốc có tác dụng kém. Phổ tác dụng hẹp của Griseofulvin được cho là thuốc ngấm kém vào tế bào nấm đặc biệt là nấm men như Candida.
Tác dụng phụ : hay gặp nhất là đau đầu, nhưng sẽ hết sau khi ngừng thuốc, các tác dụng phụ khác hiếm gặp như buồn nôn, nôn, cảm giác khó chịu ở miệng, đau khớp, đau dây thần kinh ngoại vi, ngủ lịm, lẫn, ngất, nhìn mờ, mất ngủ. Có thể có giảm bạch cầu, tăng bạch cầu ái kiềm, bạch cầu đa nhân nhất là khi dùng kéo dài, những thay đổi này sẽ hồi phục sau khi ngừng thuốc.
1.6. Flucytosine.
5- fluorocytosine ( flucytosine) là một dẫn chất có fluor của Pyrimidine, tan trong nước.
Phổ tác dụng: với Candidiasis, Cryptococcosis và chromomycosis diện tích nhỏ, thuốc làm tăng các tác dụng của Amphotericin B trong điều trị Asperrgillus và Sporotrichosis ngoại vi.
Cơ chế tác dụng : các nám nhậy cảm thuốc sẽ chuyển hoá 5-fluorocytosine thành 5-fluoracil, sau đó thành 5 - fluorouadylic axit, chất này kết hợp chặt chẽ với RNA hoặc chuyển hoá thành 5- fluorodeoxyuradylic acid moniphosphate, một chất ức chế Thymidylate synthetase mạnh, men này có vai trò quan trọng trong sinh tổng hợp DNA.
Thuốc có dạng viên nang ( capsule) 250 hoặc 500 mg, liều khởi đầu ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường là 150 mg/ kg/ ngày.
Tác dụng phụ : khi dùng đơn thuần, tác dụng phụ hiếm gặp, có thể ban dị ứng, buồn nôn, đôi khi gây viêm gan. Khi dùng kết hợp Amphotericin B, tỷ lệ có tác dụng phụ lên tới 15-30%, thường gặp giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, giảm sản tuỷ, viêm đại tràng, viêm gan, rối loạn men gan và phosphataza kiềm, bệnh nhân có thể tử vong do nhiễm trùng huyết, xuất huyết nội tạng.
2. Thuốc dẫn chất Azol.
Tác dụng chung của dẫn chất Azol:
Các thuốc nhóm azole bao gồm biazole ( có vòng 5 cánh chứa nitơ) và triazole ( chứa 3 nitơ). Các thuốc mới thuộc vào nhóm thứ hai, bền vững hơn trong cơ thể.
Phổ tác dụng : phổ tác dụng của azole trong in vitro rất rộng mặc dù nồng độ thuốc khác nhau tuỳ theo điều kiện thí nghiệm. Thuốc có tác dụng với Candidiasis, Cryptococcosis, Coccidioidomycosis, Pseudallescheriasis,tinea versicolor, ringworm. Trên động vật thuốc có tác dụng với Asperrgillosis và Sporotrichosis, itraconazole có thể tác dụng trên bệnh nhân mắc hai bệnh trên. Không giống như nitroimidazol thuốc không có tác dụng với vi khuẩn, thuốc có tác dụng với Leishmania major và Prototheca.
Cơ chế tác dụng : thuốc nhóm azole gắn với phần heme của Cytochrome P450, làm rối loạn các chức năng oxy hoá, quá trình demethyl của lanosterol bị ức chế dẫn đến tính luỹ µ-14 methyl, sterol, hai tác dụng này làm tổn thương nghiêm trọng màng tế bào và làm nấm ngừng phát triển. Với nồng độ cao hơn thuốc có tác dụng diệt nấm.
* Nhóm biazole : gồm các thuốc như Ketoconazole, Miconazole, Clotrimazole, Econazole...
2.1. Ketoconazol:
Biệt dược Nizoral , dạng viên 200 mg, kem hoặc fungicid viên 200 mg.
Ketoconazol thường được sử dụng nhiều trong điều trị các bệnh nấm da, nấm men và các bệnh hệ thống.
Tác dụng phụ : hay gặp nhất là khó chịu dạ dày, ruột, ban da, viêm gan hiếm gặp nhưng có khả năng gây tử vong, viêm gan của ketoconazole rất giống viêm gan do isoniazod ( xuất hiện chủ yếu trong 3 tháng đầu sử dụng thuốc, buồn nôn, rối loạn tiêu hoá xuất hiện nhanh, vàng da, hoại tử tế bào gan thành mảng, không liên quan đến liều dùng ), ngoài ra có thể gặp khô miệng, ngứa ở da, đau đầu, chóng mặt. Thuốc có thể sinh quái thai ( teratogenic) nên không dùng cho phụ nữ có thai và cho con bú. Tác dụng hormon: thuốc ức chế tiết corticoid và testosterone, tác dụng này phụ thuộc liều dùng và thời gian, thuốc làm giảm khả năng tình dục, giảm hoặc mất tinh trùng, vú to...
Thuốc thường sử dụng ở các dạng kem, bôi tại chỗ và viên uống.
2.2. Clotrimazol : bis- phenyl- ( 2- chlophenyl)- 1- imidazol methan). Biệt dược canesten , calcream.
Tác dụng với nấm da, Candida, Trichomonas, nấm tai do Aspergillus, dùng dạng cream, dung dịch 1%, dạng viên 100 mg, biệt dược Canesten, và Calcream. Trên invitro người ta thấy với nồng độ 1 microgam trên 1 ml đã ức chế trên 98% của 324 loài nấm ngoài da, trên 96% của 1147 loài nấm men candida, trên 80% của 78 loài nấm lưỡng dạng (dimorphe) và 17/23 loài nấm mốc, với nồng độ 10 microgam / 1 ml thì clotrimazol có tác dụng diệt nấm.
Một số chế phẩm được dùng ở dạng bột, dung dịch, dạng kem., viên đặt 200- 500 mg, có biệt dược như canesten.
2.3. Econazol [ 1- ( 2,4 dichloro- 3- P- chlorobenzyl) oxy- phenthyl ]- imidazol nitrat.
Thuốc có các dạng dung dịch, kem, dạng bột, dạng sữa bôi da.
Tác dụng với nấm da, nấm men, vi khuẩn gr (+).
2.4. Miconazol :
[ 1- ( 2,4- dichloro- b ( 2,4 dichloro benzyl) oxy- phenyllethyl- ] imidazolnitrat.
Thuốc có tác dụng mạnh với nám da. Candida, vi khuẩn gram (+). Thuốc có tác dụng mạnh, nồng độ tối thiểu ức chế nấm ngoài da là 0,1- 1 Microgam / 1 ml, ở nồng độ 10 Microgam/ ml thuốc ức chế nấm Candida. Có dạng thuốc kem. Thuốc dung nạp tốt, đôi khi thấy kích ứng da tại chỗ, cảm giác bỏng, ngứa tăng lên khi dùng kem bôi âm đạo.
Sử dụng điều trị các loại nấm da, nấm men thường dùng dạng kem 2%.
Các biệt dược: Miconazol ointment 2%, dakatrin dạng bột, dạng kem và dạng gel.
2.5. Chlormidazol:
Công thức cấu tạo : 1-(p- chlobenzyl)- 2 methyl- benzimidazol:
Tác dụng với các chủng nấm da, candida và một số vi khuẩn gram (+).
Sử dụng ở dạng kem 5% bôi ngoài da.
2.6. Itraconazol (sporal):
Tác dụng như ketoconazole nhưng ít độc hơn và ít tác dụng đến hormon hơn. Tác dụng in vitro mạnh hơn 10 lần so với ketoconazole nhưng nồng độ ở máu ngoại vi, lại kém hơn ketoconazole 10 lần do đó tác dụng điều trị tương đương, tuy nhiên itraconazole có tác dụng tốt hơn ketoconazole trong các bệnh sporotrichosis,aspergillosis, cryptococcosis.
Tác dụng phụ : khó chịu ở dạ dày, ruột giảm kali máu, khô da, mệt mỏi, ban da, ngứa, chóng mặt, loạn cảm, bất lực đôi khi xuất hiện.
Thường sử dụng dạng viên 100 mg để uống, có tác dụng toàn thân. Dùng điều trị nấm da, nấm men và các nấm hệ thống khác.
2.7. Fluconazole:
Biệt dược diflucan viên 150 mg.
Tan trong nước ở pH trung tính.
Phổ tác dụng: có tác dụng điều trị Candidiasis niêm mạc miệng, thực quản, thuốc đắt hơn ketoconazole nhưng hấp thu tốt hơn ở trên những bệnh nhân AIDS có bệnh lý dạ dày, thuốc cũng có tác dụng trong những trường hợp Cryptococcosis trên bệnh nhân AIDS, có thể dùng điều trị ngay từ đầu nhưng Amphotericin B tác dụng nhanh hơn ở những trường hợp co giật hay có những triệu chứng tiên lượng xấu, sau khi bệnh nhân đã ổn định, có thể dừng Amphotericin B, dùng fluconazole kéo dài và duy trì.
Tác dụng phụ : thuốc dung nạp tốt, tác dụng phụ hay gặp nhất là buồn nôn, đôi khi xuất hiện ban dị ứng, tăng bạch cầu ái toan, hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử thượng bì nhiễm độc ( epidermal necrolysis)...
Thuốc có tác dụng với nấm da, candida và một số vi khuẩn gram (+). Sử dụng ở dạng kem 5% bôi ngoài da.
2.8. Voriconazol.
Voriconazol là một triazole mới. Phổ tác dụng rộng: bao gồm cả nấm men, nấm sợi và nấm lưỡng dạng, có giá trị trong điều trị aspergillosis và candidiasis sâu, thuốc tác dụng với cả những trường hợp Candida kháng fluconazole và itraconazole. Thuốc có một số tác dụng phụ cần lưu ý : khoảng 30% bệnh nhân có rối loạn thị lực, hiện vẫn chưa rõ cơ chế và tự hế khi ngừng thuốc, 10% có rối loạn các chỉ số sinh hoá về gan, 5% có ban, ban đỏ. Thuốc được thải trừ chủ yếu qua gan nhờ men CytP450 có thể có tương tác với nhiều thuốc khác. Thuốc có thể dùng đường uống, đường tĩnh mạch.
3. Thuốc điều trị nấm thuộc nhóm allylamin.
Thường người ta sử dụng hai chất terbinafin và naftifin để điều trị các bệnh nấm da. Trong đó terbinafin được dùng phổ biến hơn với biệt dược là Lamisil. Thuốc ức chế squalene epoxidase, một bước quan trọng trong sinh tổng hợp ergosterol của thành tế bào nấm. Thuốc có nhiều ưu điểm như: phân bố ở cả da, tóc, móng, có tác dụng diệt nấm, dùng trong những trường hợp bệnh nấm nặng thường kết hợp với bệnh thiếu hụt miễn dịch tại chỗ hoặc toàn thân, độ dung nạp và độ an toàn của thuốc cao.
Terbinnafin ức chế nấm da ở nồng độ 0,01mm/ ml in vitro. Thuốc dung nạp tốt, một vài bệnh nhân thấy khó chịu ở dạ dày, ruột nhưng không phải ngừng thuốc.
So sánh điều trị Terbinafine 250 mg / ngày với ketoconazol 200 mg / ngày ở bệnh nhân nấm thân thấy có hiệu lực cao hơn (tỷ lệ 95% so với 78%) và bệnh nhân được dùng terbinafine khỏi bệnh nhanh hơn trong tuần đầu đã có 10% khỏi, còn nhóm điều trị ketoconazol chưa có bệnh nhân nào khỏi trong tuần đầu tiên
Sơ đồ ức chế tổng hợp ergosterol của một số thuốc chống nấm.
ACYLCOENZYM A
HYDROXY METYLGLUTAMYL CO A
ACID MEVALANIC
SQUALENE
Squalen epoxidase ¬ Terbinafin
SQUALENEPOXIDE
LANOSTEROL
1,4 a demehylase ¬ Imidazol
1,4 - DEMETHYLLANOSTEROL
ZYMOSTEROL
FECOSTEROL
ERGOSTEROL ¬ Amphotericin B
MÀNG TẾ BÀO
PHÒNG CHỐNG BỆNH NẤM .
1. Đường lây truyền của bệnh nấm da.
Bệnh nấm da lây truyền theo kiểu exogen(yếu tố ngoại lai) do các nguyên nhân sau:
Tiếp xúc với bào tử , sợi nấm trong thiên nhiên, không khí, đất, nước hoặc từ các nguồn khác như thực vật...
Tiếp xúc với súc vật bị nấm (mèo, chó, trâu bò...).
Thông thường nhất là lây truyền giữa người và người do tiếp xúc với nha bào, sợi nấm từ tổn thương của người bị bệnh nấm, do người bệnh gãi sợi nấm, nha bào vương vãi ra quần áo, chăn chiếu (nằm chung, tắm giặt chung dùng chung quần áo lót, giường tất, lược, mũ...).
Nấm lây truyền cũng cần có những yếu tố thuận lợi như: da bị sang chấn, mồ hôi lép nhép, làm bở lớp sừng, cọ sát da làm xung huyết nhất là điều kiện thiếu vệ sinh, ít tắm giặt, để cho nha bào, sợi nấm bám vào da có đủ thời gian nảy nở và phát triển thành bệnh.
Yếu tố nội lai (endogen ) .
Cũng trong hoàn cảnh điều kiện sinh hoạt vệ sinh như nhau tại sao có người bị mắc bệnh nấm da có người không bị mắc ? Phải chăng là yếu tố cơ địa của từng cơ thể và liên quan đến yếu tố sinh lý da, vì khả năng đáp ứng miễn dịch cơ thể với nấm da là qua trung gian tế bào, vì vậy ở từng cơ thể có khác nhau nên có ảnh hưởng đến phát sinh phát triển của bệnh nấm da.
Người ta thấy ở những người bị nhiễm nấm da có khả năng kháng kiềm (KNKK) và khả năng trung hoà kiềm (KNTHK) thấp hẳn so với những người bình thường và ngược lại KNKK và KNTHK ở những người không mắc bệnh nấm da, thì cao hơn so với những người bị bệnh nấm da., nghĩa là chất lượng lớp sừng của da kém thì dễ mắc bệnh nấm da. Người ta đã nghiên cứu và thừa nhận do không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa nấm với các tế bào tạo kháng thể của hệ liên võng nội mạc nên có thể" dự đoán" về mặt lý thuyết là nồng độ kháng thể trong dịch thể sẽ thấp hoặc không phát hiện được bằng các phương pháp huyết thanh học có độ nhậy thấp. Nhưng với các phương pháp xác định kháng thể có độ nhậy cao người ta vẫn có thể phát hiện có kháng thể kháng nấm ở trong huyết thanh. Người ta thấy ở những bệnh nhân có IgE tăng là những bệnh nhân cũng có test trichophytin (+) trong 30 phút đầu .
2. Biện pháp giáo dục tuyên truyền vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường:
Bệnh nấm da lây truyền theo hướng trực tiếp và gián tiếp. Trong đó hướng trực tiếp là chủ yếu. Vì vậy để đề phòng nấm da lan truyền xâm nhập vào da của cơ thể thì khâu vệ sinh cá nhân rất quan trọng.
+ Phải tắm rửa sạch sẽ bằng nước sạch, nhiệt độ nước tuỳ theo từng mùa, tắm dùng xà phòng phải thích hợp, tránh xà phòng có nhiều chất kiềm quá làm khô da, giảm sức chống đỡ của da (pH của da khoảng 4, 5- 5, 5).
+ Sau khi tiếp xúc với môi trường bẩn nhiễm khuẩn, nhiễm nấm hay dầu mỡ thì phải rửa chân, tay, kỳ cọ sạch sẽ, chú ý các kẽ nếp da.
+ Đối với người làm công tác chế biến thực phẩm hoa quả, bia thì cần phòng nhiễm nấm men gây viêm móng, viêm da, nên phải có găng tay, chân đi ủng. Sau giờ làm việc phải rửa sạch tay chân và lau khô, chú ý ở đầu móng, nếp, kẽ tay, kẽ ngón chân, tất phải thay hằng ngày.
+ Ngăn ngừa nhiễm nấm da lây lan, khi có người bị nấm da thì nên cách ly, luộc quần áo, phơi nắng, quần áo sau khi giặt cần lộn trái trong khi phơi nắng.
+ Không dùng chung quần áo, giường chiếu, chăn đắp, mũ, lược, khăn quàng, giầy tất.
+ Tránh mặc quần áo ẩm ướt, quần lót không nên dùng vải ni lông và quá chật gây sây xát, bí mồ hôi ( 80% nấm gây tổn thương da ở bẹn, mông, thắt lưng).
+ Khi da bị sây xát phải rửa sạch bằng thuốc sát khuẩn, tránh điều kiện thuận lợi cho nhiễm khuẩn, nhiễm nấm xẩy ra.
+ Không được cạo da và bôi các thuốc linh tinh như pin đèn, kiến khoang, khi bị ngứa viêm da cần đi khám chuyên khoa và điều trị theo đúng phác đồ, thời gian, đúng thuốc và liều lượng dùng.
+ Tránh nấm da ở đầu và tóc: cá nhân phải luôn luôn giữ sạch da đầu, tóc tránh bụi, tránh ẩm ướt, cần đội mũ nón, thích hợp, tránh quá chật và quá bí phải gội đầu sạch hàng tuần, trường hợp tóc nhờn quá thì cần gội nhiều lần hơn. Khi tóc khô và nhiều gầu thì nên gội đầu ít hơn. Không nên dùng các loại xà phòng gội đầu có nhiều chất kiềm vì nó làm tóc khô và dễ rụng. Nên gội bằng nước bồ kết, xà phòng thơm xong xả bằng nước sạch, có thể gội bằng chanh, nước lá dứa, lá bưởi.
+ Môi trường: nơi ở phải thoáng mát, nhà cửa phải cao ráo, sạch sẽ, tránh bụi bậm, nước tắm đủ dùng phải sạch (nước mưa, nước máy, nước giếng) phải có xô, chậu, phải có dây phơi ngoài nắng. Chăn chiếu phải định kỳ giặt giũ, tránh để ẩm mốc.
3.Biện pháp phòng bệnh nấm da bằng kỹ thuật.
Để chủ động trong công tác phòng chống bệnh nấm da ở nhiều nước tiên tiến người ta đã tìm ra các biện pháp kỹ thuật để phòng nấm. Phòng nấm kẽ ở chân những người đi giầy dép thì dùng hơi focmol để diệt nấm hoặc rắc bột talctamin- boric 10% vào kẽ chân. Quân đội Mỹ đã dùng loại bột ( foot powder) có chứa axit undecylenic rắc vào giầy, tất đề phòng nấm kẽ cho binh lính ở Nam Việt Nam trước đây thu được kết quả tốt). ở Đức người ta dùng smotilon A.M để đề phòng nấm da bằng cách tẩm dệt vào tất chân. ở Liên Xô trước đây người ta đã dùng một số hoá chất có tác dụng diệt nấm không gây hại cho người, tẩm vào sợi vải rồi dệt thành quần áo lót phòng nhiễm nấm da, nấm men và vi khuẩn. ở Hungari sử dụng dung dịch NaPCP(natripentachlorophenolat) 1% kết hợp với kẽm sulfat ( ZnSO4) 1% phun vào các thảm chùi chân, thảm trải trong nhà để phòng nấm kẽ. Người ta còn dùng bột mikofen chứa 1% NaPCP với bột tale, rắc vào tất để phòng nấm (gần đây đã được sử dụng rộng rãi ở Hungari).
+ Dùng xà phòng nizoral phòng nấm, xà phòng sastid phòng chữa nấm lang ben, đang được ứng dụng.
+ Ở Việt Nam bộ môn- khoa Da liễu- H.V.Q.Y đầu tiên đã nghiên cứu ứng dụng phương pháp trên của Hungari để tẩm NaPCP và ZnSO4 vào quần lót phòng chống nấm ở thắt lưng, mông, bẹn cho bộ đội đã thu được kết quả tốt, giảm được 3 lần mắc nấm da mới so với lô đối chứng không tẩm NaPCP và ZnSO.







