Bệnh này còn khá nhiều trên thế giới. Theo tài liệu Y tế thế giới có khoảng 50 triệu người, nhất là ở Trung Phi, ở Việt Nam có ở Tây Nguyên. Bệnh có thể lây từ người nọsang người kia. Bệnh thường gặp ởvùng nông thôn có đời sống kinh tế thấp, khí hậu nóng, ăm là điều kiệ thuận lợi để bệnh lan tràn.
Đại cương.
Căn nguyên:
Do loại xoắn khuẩn T. Pertenue (Tréponema Pertenue).
Đặc điểm: Xoắn khuẩn không di động, về hình thái khó phân biệt với xoắn khuẩn giang mai.
Các xét nghiệm chẩn đoán huyết thanh giang mai (+) thì bệnh ghẻ cóc cũng (+).
Chưa nuôi cấy được xoắn khuẩn này trên môi trường nhân tạo.
Xoắn khuẩn tìm thấy nhiều và dễ thấy ở tổn thương thần kinh I và thần kinh II.
Dịch tễ học:
Ghẻ có không bẩm sinh, không lây qua đường tình dục.
Hay gặp xảy ra chủ yếu thường ở lứa tuổi thiếu niên.
Không gây tổn thương hệ thần kinh và tim mạch.
Hay xảy ra ở vùng khí hậu nóng và vùng nông thôn (trong khi đó giang mai gặp nhiều ở vùng thành thị).
Nam bị nhiều hơn nữ.
Xoắn khuẩn lấy nhiễm qua da bị xây xát, chú ý xoắn khuẩn không qua được da lànhvà chủ yếu do tiếp xúc trực tiếp với người bệnh.
Lây qua côn trùng chưa được xác minh.
Lâm sàng.
Chia làm 3 giai đoạn (thời kỳ).
Thời kỳ ủ bệnh từ 2-6 tháng.
+ Thời kỳ 1: xoắn khuẩn xâm nhập vào 1 vị trí nào đó trên da, thường nơi bị xây xát. Tổn thương là sẩn đỏ nhiễm cộm, sẩn biến thành loét có vẩy tiết màu vàng. Loét to dần ra hoặc liên kết gần nhau thành 1 loét to.
Đáng chú ý là tổn thương này không ngứa không đau. Loét to dần cứ sùi lên như quả dâu tây, dễ chảy máu và không đau.
Tổn thương trừ khi có bội nhiễm thì đau, tiết dịch trong đó có nhiều xoắn khuẩn.
Bệnh nhân có triệu chứng toàn thân như sốt, đau khớp, mệt mỏi nhưng thường không rõ rệt, bệnh nhân có thể có hạch khu vực, không thành chùm, không đau, không áp xe hóa.
Lưu ý: 10% bệnh nhân ghẻ cóc không có giai đoạn 1 (không có tổn thương thời kỳ 1) bệnh chuyển thẳng sang thời kỳ 2.
Thông thường tổn thương thời kỳ này khoảng 2-6 tháng, tự lành để lại sẹo teo, to và lõm, mất sắc tố hoặc nhạt màu ở giữa, xung quanh là viền sẫm màu hơn. Tổn thương to như hạt ngô nổi cao lên mặt da nhẵn bóng tưởng như có dịch bên trong, nhưng cậy dần ra một màng bọc ở ngoài trong mọng như quả dâu, chảy máu dịch.
+ Thời kỳ 2:
Xuất hiện sau 2-4 tháng, có thể sớm hơn hoặc lâu hơn khi tổn thương thời kỳ 1 lành.
Tổn thương là sẩn đỏ, sẩn này nhanh chóng loét ra, đóng vẩy tiết vàng. Đôi khi không thấy loét, chỉ thấy phủ vẩy tiết vàng.
Vị trí: thường gặp ở miệng, mũi, hậu môn và âm hộ.
Thông thường gặp 2 tổn thương: 1 loại to và 1 loại nhỏ. Những vị trí lòng bàn tay, bàn chân tổn thương không loét mà là dạng dày sừng; ở móng dẫn đến dày móng, biến đổi hình dạng móng.
Tổn thương thời kỳ 2 không gây ở niêm mạc. Nếu có là do tổn thương ở da kế cận lan rộng vào niêm mạc chứ không phải xuất phát từ niêm mạc.
Diễn biến: thường khoảng từ 6 tháng - 3 năm.
Tổn thương lành để lại sẹo, đa số để lại dát sẫm màu, sau vài tháng thì mất.
Cũng có khi tổn thương là dát nhạt màu gọi là ban cóc ghẻ.
Trước khi xuất hiện tổn thương thời kỳ 2 cũng có thể có triệu chứng toàn thân: sốt, nhức đầu, đau xương khớp và nổi hạch rải rác (giống giang mai).
Nếu coi đây như nhiễm khuẩn huyết. Thời kỳ này khoảng 2-3 năm chuyển mãn.
+ Thời kỳ 3:
Bệnh gây tổn thương ở da và ở xương bao gồm các tổn thương sau:
. Loét ở da.
. Có tổn thương củ và cục.
. Tổn thương dày sừng lòng bàn tay, bàn chân.
. Có tổn thương nút ở cạnh khớp.
. Có viêm mũi - hầu gây biến dạng.
. Tổn thương khớp, xương và tổn thương sùi ở xương mũi và xương mặt.
. Di chứng hay gặp nhất là dày sừng, quá sừng lòng bàn ta, bàn chân. Dày sừng này có khi biến thành nút tròn, gờ cao, khi bệnh nhân đi lại sẽ làm bong sừng và đau, bệnh nhân phải đi đổi tư thế, gây biến dạng bàn chân. Mặt khác bàn chân quá sừng từng mảng, nứt nẻ, chảy dịch ướt, trên đám dày sừng có lỗ nhỏ như rỗ chân.
Tổn thương ở xương: có viêm xương và màng xương hay gặp ở xương dài, xương chày, xương cánh tay, cẳng tay, bàn tay, bàn chân gây đau, gây biến dạng xương chày lưỡi liềm (giống giang mai).
Tổn thương gôm hay gặp ở lòng bàn chân, biểu hiện là những cục ở tổ chức dưới da. Những cục này bé về sau to dần, lúc đầu rắn di động và không đau, về sau có xu hướng mềm ra, da phía trên cục loét thoát mủ đặc tạo hình gôm bị loét.
Viêm màng hoạt dịch và viêm gôm bao hoạt dịch, gân (tendinous synovitis) gặp ở khớp gối, cổ chân, khuỷu tay. Biểu hiện toàn bộ khớp bọc trong 1 khối keo, nề đau và có thể gây tàn phế nặng nề có thể xuất hiện u nang hoạt dịch gôm. Những u nang này không đau, ấn vào chun giãn và di động (cần chẩn đoán khác với hạch).
Biến dạng mũi- hầu do các bộ phận xương, sụn ở vùng mũi, má, hầu bị biến dạng tạo nên hình dáng quái dị (gangosv) và có khi xương mũi, cả xương má, xương mặt cũng bị lồi. Trường hợp này do bội nhiễm gọi là gondou.
+ Thấp khớp do ghẻ cóc: biểu hiện đau khớp nhưng không gây biến dạng lớn.
+ Tổn thương ở thần kinh này sẽ để lại sẹo teo và nhiễm sắc.
Chẩn đoán.
Chẩn đoán quyết định:
+ Căn cứ vào dịch tễ học, địa dư (vùng bị bệnh, trong gia đình và trong đơn vị).
+ Dựa vào triệu chứng lâm sàng ở trên.
+ Cận lâm sàng:
Thời kỳ 1, 2 dễ tìm thấy xoắn khuẩn: treponéma pertenue.
Tiêm truyền gây bệnh cho khỉ, thỏ.
Xét nghiệm huyết thanh.
Chẩn đoán phân biệt:
+ Phong: Khi ở giai đoạn có biến dạng chân tay.
+ Giang mai III: với dày sừng lòng bàn chân, loét thâm nhiễm.
Điều trị.
+ Penicillin 2,4 triệu, tiêm 1 lần duy nhất (PAM hoặc benzathine penicilline).
+ Hoặc streptomycin 1g/1 ngày x 7- 10 ngày (trẻ em dưới 12 tuổi dùng 1/2 liều người lớn).
Dự phòng: khi tiếp xúc với người bệnh có tổn thương loét cần chú ý thực hiện đúng chế độ, vì bệnh lây qua da bị xây xát.
Điều trị dự phòng hàng loạt với penicilline ở vùng có bệnh cho kết quả tốt.







