1. Đại cương
Là một bệnh ngoài da thường gặp,tiên phát hay tái phát,có đặc điểm về lâm sàng là xuất hiện mụn nước thành nhóm cụm trên nền đỏ, bệnh xuất hiện bất kỳ ở vị trí nào trên cơ thể, hay gặp nhất là quanh môi, lỗ mũi, má và vùng sinh dục, tầng sinh môn( nam giới thân dương vật, nữ giới môi bé), cá biệt thể hầu họng . Ecpet là một bệnh lành tính nhưng hay tái phát và thường xuất hiện sau những đợt sang chấn về cơ thể như nhiễm khuẩn , nhiễm độc nặng, sau tiêm chủng, dùng huyết thanh... Đặc biệt ở những người có suy giảm miễn dịch nhất là ở bệnh nhân nhiễm HIV/ AIDS.
2. Căn nguyên dịch tễ học
Bệnh gây nên do Herpes- simplex virus type 1 và 2.Quanh miệng thường chủ yếu do type 1, ở niệu -sinh dục chủ yếu do type 2
Bệnh thường xuất hiện ở người lớn trẻ tuổi, có khi ở trẻ em ,cả ở trẻ sơ sinh ,tuổi ấu thơ.
Lây truyền qua tiếp xúc da-da, da-niêm mạc.
Các yếu tố thuận lợi cho sự mắc bệnh và thúc đẩy tái phát là:sốt,thay đổi nội tiết,cảm lạnh,say nắng,suy giảm miễn dịch,bị bệnh ác tính,đang dùng hoá trị liệu thuốc ức chế miễn dịch,ghép cơ quan,chiếu xạ,nhiễm HIV...
3. Lâm sàng
Thời kỳ ủ bệnh 2-20 ngày (trung bình 6 ngày)
Trước khi nổi tổn thương thường có cảm giác khó chịu, ngứa , rát dấm dứt tại chỗ. Bắt đầu bằng một vết đỏ, nề, sau đó nhanh chóng xuất hiện các mụn nước thành cụm như " bó hoa" từ 3- 10 cái, tròn hoặc hình cầu, đều nhau, nhỏ 2-4 mm đường kính. Dịch ban đầu trong sau thành đục. Có những ecpet khổng lồ phỏng nước to như trong bệnh Duhring. Sau vài ngày, mụn nước vỡ, khô tại chỗ đóng vảy tiết vàng hoặc hơi nâu, gắn chặt, khi bong để lại một vết đỏ, sau đó trở lại bình thường không thành sẹo, các hạch lympho lân cận có thể sưng và đau. Từ khi bắt đầu đến khi lặn tất cả khoảng 8- 15 ngày.
Thường chỉ có một đám nhưng cũng có khi có nhiều đám rải rác ở mặt, vùng sinh dục. Bệnh nổi từng đợt, có khi thành chu kỳ. Thường là không sốt, không đau nhưng một số trường hợp có thể kèm sốt và triệu chứng toàn thân nhất là ecpét họng hầu ( ecpét viêm họng). Những triệu chứng toàn thân có khi là do bệnh nhiễm khuẩn ( cầu khuẩn phổi, màng não, xoắn khuẩn) đã khởi động écpét.
Bệnh có thể xuất hiện ở vùng da-niêm mạc bất kỳ nhưng thường thấy ở vùng quanh miệng,má đầu mũi,ngón tay có khi quanh mắt ,đầu ,cổ, vai,sinh dục..
Ở bệnh nhân nhiễm HIV/ AIDS ,écpét có bệnh cảnh lâm sàng trầm trọng như loét trợt rộng vùng hậu môn, sinh dục, niêm mạc miệng... có thể có tổn thương não, màng não , 40% gây tử vong.
4. Xét nghiệm
- Xét nghiệm tìm kháng thể bằng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp cho kết quả nhanh và nhạy;
Nuôi cấy virus.
- Xét nghiệm kính phết Tzanck lấy dịch mụn nước làm phiến đồ,nhuộm Giemsa hoặc nhuộm Wright thấy có tế bào đa nhân khổng lồ và tế bào sừng khổng lồ tiêu gai,dương tính ở 75% số ca.
Phản ứng Polymerase chain reaction( PCR) xác định chuỗi HSV-DNA ở mô.
5. Chẩn đoán
Dựa vào lâm sàng, khẳng định bằng kính phết Tzanck, nuôi cấy virus, phát hiện kháng nguyên. Các ca écpét nặng lan rộng cần kiểm tra nhiễm HIV.
6. Điều trị
Trong điều trị chú ý loại trừ những yếu tố thuận lợi và nâng cao sức đề kháng cơ thể, kích thích miễn dịch. Toàn thân dùng kháng virus trước mắt và uống phòng tái phát như : Acyclovir 0,2 (08) x 5 viên / ngày , cách 4giờ uống 1 viên một đợt 5-7 ngày (nên uống sớm khi bệnh mới bắt đầu thì hiệu quả cao hơn). Chống tái phát: Acyclovir 0,4 x 3 viên/ ngày x 5 ngày.Ngoài thuốc kháng virus acyclovir còn có valacyclovir và famciclovir.
Các thuốc kích thích miễn dịch : Immurong/ Muren , T.F.X...
Tại chỗ : Acyclovir cream 1% bôi 5 lần / ngày.
Dung dịch Milian hoặc dd Castellani.
Mỡ kháng sinh nếu có bội nhiễm.







