Ấu trùng sán lợn dưới da

T6, 09/10/2020

1. Đại cương: là một bệnh mạn tính có tổn thương ở da, cơ, não... căn nguyên do các u nang sán lợn (trong có đầu sán) gây nên. Biểu hiện lâm sàng tuỳ theo vị trí khu trú của nang ở da ảnh hưởng tới thẩm mỹ, ở não có thể gây động kinh, giảm trí nhớ  hoặc  rối loạn vận động ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống.

2. Căn nguyên bệnh sinh :

Sán dây lợn có ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở những vùng có phong tục ăn thịt lợn sống, chưa nấu chín hoặc quản lý phân chưa tốt. Sán dây lợn dài từ 2- 3 mét (thậm chí 8 mét), đầu nhỏ, hơi tròn, đường kính khoảng 1 mm, có bộ phận nhô lên, có 2 vòng móc (22- 32 móc) và 4 giác ở 4 góc. Có đốt cổ mảnh, có đốt thân trưởng thành, có đốt già. Một đốt sán già có thể chứa tới 55  nghìn trứng,những đốt già ở cuối thường rụng thành từng đoạn 5,6 đốt liền nhau theo phân ra ngoài bình thường.  Vật chủ chính của sán là người, còn vật chủ phụ là lợn. Lợn ăn phải đốt sán hoặc trứng sán, trứng sán qua dạ dày đến ruột lợn. ấu trùng chui qua thành ruột vào hệ thống tuần hoàn và đi khắp cơ thể lợn. Sau 24-72 giờ kể từ khi ăn phải ấu trùng sẽ cư trú ở các mô liên kết hoặc các cơ, sau 2 tháng ấu trùng tạo thành một nang có vỏ bọc ngoài (kích thước 17- 20 x 7- 10 mm), còn được gọi là  gạo lợn (cysticereus cellulosae), trong nang có dịch màu trắng, có mẩu đầu sán với 4 giác và 2 vòng móc.

Ngoài lợn còn có chó mèo hoặc người đều có thể là vật chủ phụ của sán dây lợn. Khi người ăn phải trứng sán dây lợn từ ngoại cảnh (theo thực phẩm, rau quả) hoặc nguy hiểm hơn là những  người đang mắc sán trưởng thành ký sinh ở ruột non vì một lý do nào đó như say tầu xe, phụ nữ có thai hoặc sốt cao... bị nôn  oẹ , những đốt sán già rụng ở ruột non theo nhu động ngược chiều lên dạ dày, dưới tác dụng của dịch tiêu hoá trứng từ các đốt già được giải phóng ra xuống tá tràng,  hàng nghìn ấu trùng thoát ra khỏi trứng và chui qua thành ruột vào hệ tuần hoàn đi khắp cơ thể, vào các cơ, các mô, phát triển thành nang ấu trùng sán (cysticereus cellulosae). Người có nang ấu trùng sán còn gọi là người gạo.

3.Triệu chứng lâm sàng: tùy vị trí u nang mà có các tổn thương

+  Ở da : các nang  nhỏ, bằng hạt đỗ hoặc hạt dẻ, tròn, chắc, không đau, di động trên nền sâu và lăn dưới da, mầu da ở trên bình thường. U nang sán thường nổi ở mặt trong cánh tay nhưng có thể nổi ở bất kỳ vị trí nào và có tính cách  đối xứng. Rất hiếm khi các u nằm bên cạnh dây thần kinh và gây đau dây thần kinh hoặc chèn ép lâm ba gây phù voi. U nang sán sau nhiều năm sẽ bị vôi hoá, lúc này có thể phát hiện được bằng X quang.

+  Ở não: biểu hiện như một u nang trong não hoặc có thể gây nên nhiều triệu chứng lâm sàng đa dạng không đặc hiệu: tăng áp lực sọ não, cơn động kinh, suy nhược trí năng, rối loạn tâm thần. Bệnh nhân có thể bị  liệt , có thể bị đột tử .

+ Ở mắt: nang  ấu trùng có thể nằm trong hốc mắt, mi mắt, trong kết mạc, thuỷ tinh thể, tiền phòng...gây giảm thị lực hoặc bị mù tuỳ theo vị trí của ấu trùng trong mắt.

+ Ở cơ tim: có thể  làm tim đập nhanh, tiếng tim bị biến đổi, bệnh nhân bị ngất xỉu.

4 Xét nghiệm:

+ Chọc hút tại u nang có một ít dịch trong.

+ Trên cơ sở dựa vào bệnh sán dây lợn ở đường ruột (xét nghiệm phân để tìm đốt sán và trứng sán), có biểu hiện lâm sàng u nang sán ở  dưới da.

+ Sinh thiết u nang ở da tìm ấu trùng sán lợn.

+  X quang, chụp não thất hoặc soi đáy mắt phát hiện thấy u nang sán hoặc ấu trùng sán lợn.

+ Các phương pháp chẩn đoán miễn dịch học cũng có giá trị để chẩn đoán, tuy nhiên thường có phản ứng chéo với các loại sán dây khác.

5. Chẩn đoán phân biệt : với các u nang bã, u mỡ, u sarcoidose.

6. Tiến triển và tiên lượng

+ Tổn thương ở da lâu ngày có thể vôi hoá ảnh hưởng tới thâm mỹ.

+ Tổn thương não phụ thuộc vào vị trí của u nang .

7. Điều trị và dự phòng:

7.1. Điều trị bệnh  sán đường ruột.

+ Hạt bí đỏ, hạt cau.

+ Quinacrin người lớn uống từ 0,9- 1,2 gr chia liều nhỏ. Một ngày trước khi uống cần dùng thuốc nhuận tràng để làm giảm chất nhầy bám quanh thân sán. Sau khi uống thuốc 1 giờ phải dùng thuốc tẩy. Nếu dùng thuốc tẩy chậm hơn  thì quinacrin sẽ ngấm vào máu gây độc.

+ Niclosamide (yomesan)  0, 5 cho uống 4 - 6 viên (1 liều), thuốc không độc, hiệu quả cao.  Buổi sáng nhai từng viên một, nhai thật kỹ, nhai 10 phút uống với một ít nước, Trứng và các đốt sán bị dập nát và đào thải ra ngoài.

7.2. Điều trị bệnh u nang sán lợn ở não.

Hiện nay vẫn là một vấn đề nan  giải. Có thể dùng  praziquantel, methifolat, DEC. Chưa biết  hết cơ chế tác dụng của thuốc cũng như phản ứng của cơ thể và đặc biệt là não(có  trường hợp sau khi điều trị bệnh nhân có thể bị mù hoặc tử vong) nên phối hợp với corticoid và thuốc chống phù nề não.

7.3. Điều  trị u nang ở da.

+ Có thể tiểu phẫu thuật khi thật cần thiết vì yếu tố thẩm mỹ hoặc các u nang chèn ép các dây thần kinh.

+ Tiêm hút dịch ở u nang, bơm 0,5 ml nước cất vào u nang để tiêu diệt đầu sán lợn.

7.4. Dự phòng:

Để tránh bệnh sán lợn đường tiêu hoá cần quản lý phân tốt, không ăn thịt lợn sống hoặc chưa nấu chín. Nếu có bệnh sán lợn  đường tiêu hoá  thì cần tích cực điều trị để dự phòng bệnh u nang sán lợn dưới da.

 

VIÊM DA  PHỎNG NƯ­ỚC DO KIẾN KHOANG

( Paedérus)

1. Đại cư­ơng :

- Paedérus là một  côn trùng  thuộc họ  Staphylinidae. Loại thư­ờng gặp là P.literalis, P.fuscipes... Paedérus thoạt  nhìn nh­ư con kiến mình dài, thanh , kích thước 7- 10 mm. Nhân dân thư­ờng gọi  côn trùng này  bằng  nhiều tên kiến khoang, kiến kim, kiến lác, kiến gạo, cằm cặp, kiến nhốt, kiến cong đít... Đầu nhỏ có râu nhọn hoặc hình bầu dục cong về phía tr­ước . Mình  mang 3 đôi chân.  Bụng có 8 đốt dẻo, một số đốt có mầu đỏ hung, một số đốt có mầu đen. Trên mình có cánh rất ngắn chỉ che đ­ược 3-5 đốt bụng, hai cánh cứng ở trên, hai cánh lụa ở dư­ới. Paedérus chạy và bay rất nhanh, khi chạy cong đít lên nh­ư đít bọ cạp. Côn trùng sống bằng chất huỷ biến của thực vật , động vật, hoặc ăn các côn trùng nhỏ , các xác chết súc vật, phân. Chúng sống ở  chỗ có phân rác , cỏ mục, rìa đầm lầy, dưới đống gạch, trong vỏ cây nứt nẻ, đôi khi trong cả tổ chim, tổ mối.

- Paedérus sống ở quanh làng, quanh các vị trí đóng quân , trong các đống rác trôi lềnh bềnh trên mặt ruộng, mặt sông. Từ các vị trí đó chúng có thể bay vào trong nhà, phòng làm việc nhất là khi  trong phòng có ánh sáng, gây nên  bệnh viêm da tiếp xúc cho những ng­ười va chạm vào  nó.

Pavan đã chiết xuất từ côn trùng một chất gọi là Pederin. Chất này  khi bôi lên da chuột bạch gây phản ứng viêm mạnh, bôi lên da ngư­ời gây viêm da phỏng n­ước.

Theo một số tác giả dân sống ở vùng châu thổ sông Vônga thư­ờng bị viêm da do Paedérus. Một báo cáo khác thông báo có một vụ dịch viêm da phỏng nư­ớc do paedérus xẩy ra vào mùa hè năm 1958- 1959 ở  Achentina (A. Conders).

Tháng 5 - 1960 Nguyễn Sỹ Quốc và cộng sự báo cáo có một vụ dịch viêm da phỏng nư­ớc gồm 31 bệnh nhân có lâm sàng t­ương tự như­ viêm da phỏng nư­ớc do paedérus . Chúng tôi  cho rằng đó cũng có thể là một vụ dịch do paedérus.

2. Hình ảnh lâm sàng :

Bệnh th­ường xẩy ra vào mùa hè, vì mư­a làm ngập ruộng các côn trùng bay theo ánh đèn vào các nhà  bên cạnh đồng ruộng. Đại đa số các bệnh nhân( 78,14 %)  là những ngư­ời làm việc dư­ới ánh đèn, và phần lớn trong số họ đều phát hiện triệu chứng lâm sàng đầu tiên vào buổi sáng.

Vị trí tổn thư­ơng chủ yếu ở phần hở, mặt, cổ hai cẳng tay, 1/2 trên thân mình. Nh­ưng cũng có trư­ờng hợp thấy cả ở vùng kín như­ nách, quanh thắt l­ưng, bẹn, đùi.

Tổn th­ương cơ bản 100 % có biểu hiện bằng các đám đỏ, nền hơi cộm, có các mụn nư­ớc và phỏng nư­ớc, ở giữa có một vùng hơi lõm thậm chí hoại tử kéo dài thành vệt dài 3- 10 cm gợi ý có hình một vật gì ( đó là vết miết côn trùng lên da của các ngón tay bệnh nhân). 100 % có cảm giác nóng bỏng tại chỗ. Toàn trạng bệnh nhân có cảm giác ngây ngấy sốt khó chịu, mệt mỏi có thể nổi hạch vùng tư­ơng ứng. Một số trư­ờng hợp phù nề hai mi mắt. Hoặc có tổn th­ương viêm da ( đỏ phù nề nhẹ ) ở các vùng da kín khác do bệnh nhân gãi, miết những độc tố của côn trùng vào vùng da đó. Sau một vài ngày có thể có nhiễm khuẩn thứ phát gây phỏng mủ, có vẩy tiết.

Tổn thư­ơng như­ vậy tiến triển từ 3-7 ngày thì đóng vẩy tiết khô và rụng dần để lại đám da sẫm màu, toàn bộ đợt tiến triển kéo dài 5- 20 ngày.

Có một số ít bệnh nhân chỉ nổi một đám da đỏ lấm tấm mụn nư­ớc hơi ngứa , tổn th­ương mất đi sau 3-5 ngày, không thành phỏng nư­ớc phỏng mủ.

Trong một mùa m­ưa bệnh nhân bị đi bị lại  3-4 lần .

Cận lâm sàng không có biến đổi gì đặc biệt trừ khi có nhiễm khuẩn. Mô bệnh học chỉ là một viêm da không đặc hiệu.

3. Chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt:

Chẩn đoán dựa vào:vị trí vùng hở như mặt cổ, 2tay,tổn thương cơ bản. Cần chẩn đoán phân biệt với viêm da do các căn nguyên khác ( hoá chất, sơn, cây cỏ...), hoặc giai đoạn đầu của bệnh zôna.

4. Điều trị và dự phòng.

Điều trị  tại chỗ : dùng các dung dịch dịu da : mỡ oxyde kẽm,hồ nước, dung dịch Yarit bôi ngày  2- 3 lần. Dùng các  dung dịch sát khuẩn, mỡ  kháng sinh khi có nhiễm khuẩn.

Toàn thân dùng  thuốc kháng histamin tổng hợp, uống thuốc kháng sinh khi có nhiễm khuẩn.

Dự phòng :

- Khi làm việc dư­ới ánh đèn chú ý tránh phản xạ đập miết  khi có cảm giác côn trùng rơi vào cổ vào mặt. hoặc dùng các lư­ới mắt nhỏ che cửa sổ tránh côn trùng bay vào nhà.

- Khi rửa mặt, tắm giặt cần giặt sạch khăn mặt hoặc  giũ quần áo trư­ớc khi mặc  tránh sát miết  côn trùng lên da.

- Khi bắt đầu thấy  rát ở vùng da nào đó có thể  chấm dung dịch n­ước muối , nư­ớc vôi để ngăn không nổi thành phỏng nư­ớc phỏng mủ .

Dịch vụ thiết kế website wordpress