Khoa Tim mạch (A2)
Tìm kiếm :   Tiếng Việt English

Khoa Tim mạch (A2)


Ngày thành lập:

Từ tháng 11/2006 - 5/2008, bộ môn - khoa Tim, Thận, Khớp và Nội tiết được tách thành 3 bộ môn - khoa: Tim mạch, Khớp và Nội tiết, Thận và Lọc máu.

Tháng 5 /2008 bộ môn Tim - Thận - Khớp và Nội tiết (AM2) lại được tái lập gồm 3 khoa lâm sàng: Tim mạch (A2), Khớp và Nội tiết (A11), Thận và lọc máu (A12).

Chủ nhiệm Khoa:

5/2008 - nay  PGS. TS Nguyễn Oanh Oanh

Phó Chủ nhiệm Khoa:

5/2008 - nay Th.S Trần Đức Hùng

 

Chức năng nhiệm vụ:

  • Thu dung, cấp cứu điều trị các mặt bệnh thuộc chuyên ngành Tim mạch
  • Tham gia NCKH về chuyên ngành: Tim mạch và áp dụng kết quả nghiên cứu vào điều trị, huấn luyện.

Các mặt bệnh thu dung điều trị

  • Thấp tim
  • Tăng huyết áp
  • Bệnh lý van tim
  • Bệnh động mạch vành (cơn đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch vành mạn tính)
  • Bệnh động mạch ngoại vi
  • Các rối loạn nhịp tim và rối loạn dẫn truyền
  • Suy tim cấp và mạn
  • Vữa xơ động mạch
  • Rối loạn lipid máu
  • Các bệnh tim bẩm sinh - bệnh cơ tim
  • Bệnh lý mạch máu thận
  • Bệnh màng ngoài tim
  • Bệnh tim phổi mạn tính
  • Bệnh lý tĩnh mạch.
  • Tuyển chọn bệnh nhân suy tim nặng phục vụ cho phẫu thuật ghép tim.

CÁC KỸ THUẬT ĐANG ĐƯỢC TIẾN HÀNH TẠI KHOA TIM MẠCH

 


1. Siêu âm tim - mạch

 

Siêu âm tim là một phương pháp cận lâm sàng dùng sóng siêu âm để đánh giá hình thái và chức năng tim. Đây là 1 xét nghiệm cận lâm sàng quan trọng, cung cấp nhiều thông tin giúp cho chẩn đoán và điều trị bệnh tim mạch. Hiện nay tại khoa Tim mạch bệnh viện 103 các bác sĩ đã tiến hành siêu âm tim qua thành ngực và siêu âm tim qua thực quản để chẩn đoán và điều trị bệnh với đầu dò tần số từ 3- 5Mhz và máy siêu âm Phillips HD 11 XE có độ phân giải cao, có phần mềm thích hợp hiện đại thuận tiện cho việc khảo sát nhanh và chính xác hệ tim mạch.

Siêu âm tim qua thành ngực giúp chẩn đoán nhiều bệnh lý tim mạch.Cụ thể:

- Bệnh van tim: hẹp van hai lá, hở van hai lá, hẹp van động mạch chủ, hở van động mạch chủ…

- Bệnh tim bẩm sinh: thông liên nhĩ, thông liên thất, còn ống động mạch…

- Tăng huyết áp.

- Các bệnh lý cơ tim (bệnh cơ tim thể giãn, bệnh cơ tim hạn chế, bệnh cơ tim phì đại…).

- Bệnh tim thiếu máu cục bộ, viêm cơ tim.

- Đánh giá hình thái và chức năng tim trước, trong và sau phẫu thuật tim mạch như: sau phẫu thuật thay van tim, sau bắc cầu nối chủ - vành.

Bên cạnh đó, khoa Tim mạch đã được trang bị thêm 1 đầu dò siêu âm tim qua thực quản. Với đầu dò này, các Bác sĩ có thể tiến hành siêu âm qua đường thực quản để khảo sát thêm các cấu trúc tim và mạch máu lớn nằm sâu trong trung thất, giúp cung cấp nhiều thông tin cần thiết bổ xung cho siêu âm trên thành ngực trong chẩn đoán và điều trị. Cụ thể:

- Các bệnh tim bẩm sinh: thông liên nhĩ, bất thường tĩnh mạch phổi đổ lạc chỗ, còn ống động mạch, bệnh Ebstein…

- Các bệnh lý van tim: hẹp hai lá, hở van hai lá…Siêu âm tim qua thực quản đánh giá cấu trúc bộ máy van hai lá giúp cho chỉ định điều trị (thay van bằng phẫu thuật hay nong van bằng bóng qua da; sửa van hoặc thay van nhân tạo…). Xác định tình trạng tổn thương van và cấu trúc van trong bệnh viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn (Osler).

- Chẩn đoán các bệnh lý mạch máu lớn trong trung thất như: phình bóc tách động mạch chủ ngực, giãn động mạch chủ…

- Tìm huyết khối trong các buồng tim (VD: trước khi tiến hành sốc điện chuyển nhịp của các bệnh nhân rung nhĩ, trước khi tiến hành nong van hai lá ở bệnh nhân hẹp van hai lá, trước khi cấy máy tái đồng bộ thất…).

 

2. Điện tim (Electrocardiography: ECG)

Là một trong những phương tiện cơ bản không thể thiếu trong khám xét các bệnh tim mạch. Điện tim là công cụ giúp các bác sỹ kiểm tra, đánh giá: các rối loạn nhịp, rối loạn dẫn truyền trong tim, thiếu máu cơ tim và nhồi máu cơ tim. Hiện nay, cùng với sự tiến bộ của y học. Các phương pháp ghi điện tim cũng có nhiều tiến bộ như từ phương pháp ghi điện tim chuẩn 12 đạo trình chỉ đánh giá được ECG lúc nghỉ và trong thời gian ngắn,  đến tiến bộ là ghi điện tim trong vòng 24 đến 72 giờ và ghi điện tim trong khi gắng sức.

Ghi điện tim liên tục trong 1 thời gian dài (từ 24 -72 giờ) gọi Holter ECG và ghi điện tim khi gắng sức (Stress ECG) sẽ giúp các bác sĩ tăng khả phát hiện được các rối loạn nhịp, rối loạn dẫn truyền, thiếu máu cơ tim và có thể đánh giá chức năng động của tim mà trên ECG 12 đạo trình thường không phát hiện được.

HolterECG và Điện tim gắng sức là một trong nhưng tiến bộ của phương pháp ghi điện tim đã được đưa và áp ở một số trung tâm tim mạch và bệnh viện lớn ở Việt Nam. Trong đó, có Khoa Tim mạch - Bệnh Viện 103.

* Điện tim gắng sức:

Tại khoa Tim mạch-Bệnh Viện 103 chúng tôi có hệ thống máy điện tim gắng sức  bằng thảm lăn hiện đại của hãng GE - Mỹ, sản xuất năm 2008. Việc thực hiện điện tim gắng sức do các bác sỹ và điều dưỡng có kinh nghiệm tiến hành.

Vai trò của điện tim gắng sức:

- Điện tim gắng rất có giá trị trong chẩn đoán nguyên nhân đau ngực có phải là do bệnh mạch vành hay  không. Từ đó có thể tránh được việc làm các thủ thuật thăm dò chảy máu khác như chụp mạch vành ở những bệnh nhân đau ngực không nghĩ đến nguyên nhân bệnh mạch vành.

- Trong chẩn đoán bệnh động mạch vành mạn tính, có tới > 60 % bệnh nhân bị bệnh mạch vành có hình ECG 12 đạo trình bình thường. Khi đó ECG gắng sức tỏ ra rất ưu thế với việc chẩn đoán bệnh động mạch vành với độ nhậy là 68-85 % và độ đặc hiệu 77-92%.

- ECG gắng còn có vai trò trong đánh giá khả năng gắng sức và tiên lượng của bệnh nhân suy tim.

 

 

3. Holter ECG 24 giờ (Theo dõi điện tim liên tục trong 24 giờ)

Theo dõi điện tim liên tục hay còn có các tên gọi khác là: Holter ECG, Ambulatory electrocardiogram (điện tim lưu động) 24 giờ. Đây là một phương pháp phát hiện, chẩn đoán và theo dõi rối loạn nhịp tim không xâm lấm và rất hiệu quả, chính xác và hiện đại.

Holter ECG 24 giờ là phương pháp ghi hoạt động điện của tim khi chúng ta hoạt động và sinh hoạt thường ngày. Rất nhiều các vấn đề bất thường của tim chỉ xảy ra khi chúng ta vận động như: tập thể dục, ăn uống, căng thẳng, lao động, hoạt động thể thao, sinh hoạt tình dục và khi ngủ…. nếu chúng ta chỉ sử dụng phương pháp ghi điện tim thông thường thì sẽ bỏ sót rất nhiều các rối loạn nhịp và rối loạn dẫn truyền sảy ra trong ngày. Do đó, chúng ta cần phải theo dõi Holter ECG trong 24 -72 giờ để kiểm tra, đánh giá đầy đủ các rối loạn nhịp tim và rối loạn dẫn truyền xảy ra trong ngày cả khi vận động và nghỉ ngơi ở những bệnh nhân có rối loạn nhịp và có triệu chứng cơ năng nghi ngờ do rối loạn nhịp gây nên như: hồi hộp đánh trống ngực, ngất, khó thở chưa rõ nguyên nhân.

Holter ECG đã được sử dụng trong chẩn đoán, theo dõi và đánh giá kết quả điều trị một số bệnh tim mạch tại khoa tim mạch > 10 năm, Hiện tại, Khoa đang sử dung máy Holter ECG của hãng Zozinn, một trong những hãng nổi tiếng của Mỹ.

 

 

4. Các kỹ thuật can thiệp

 

Kỹ thuật can thiệp mạch vành và động mạch ngoại vi là kỹ thuật thăm dò cho kết quả trực tiếp về hình ảnh, mức độ tổn thương, tính chất tổn thương của động mạch vành , động mạch ngoại vi giúp Bác sỹ lâm sàng quyết định các phương pháp điều trị can thiệp tiếp theo cho bệnh nhân. Đây là kỹ thuật hiện đại, tiên tiến hiện nay được áp dụng rộng rãi trong khoa Tim mạch - BV 103

4.1. Can thiệp động mạch vành

4.2. Can thiệp động mạch chi dưới

 

4.3. Can thiệp động mạch thận

 

 

4.4. Nong van 2 lá bằng bóng qua da và đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn 1 buồng, 2 buồng, và tái đồng bộ 2 thất

4.5. Làm mỏng vách liên thất bằng ethanol

4.6. Sinh thiết nội mạc cơ tim


Đăng tin lúc 17:24 ngày 29-08-2012

In trang    Gửi qua Y!M


TIN NỔI BẬT

V/v Phòng chống dịch COVID-19 trong tình...
(21:22 23-05-2020)
Thông báo về việc giả mạo Bệnh viện...
(23:05 19-05-2020)
Các bài giảng mới nhất về COVID-19
(13:57 17-04-2020)
VIDEO
 

BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
Địa chỉ : 261 Phùng Hưng - Hà Đông - Hà Nội

Giấy phép số: 170/QĐ-CT 10-02-2011