Khoa Điều trị tích cực (B11)
Tìm kiếm :   Tiếng Việt English

Khoa Điều trị tích cực (B11)


1. Thành lập:  17-3-1997

2. Thành tích:

2.1. Hoàn thành đặc biệt xuất sắc nhiệm vụ huấn luyện đào tạo các bậc học chuyên ngành hồi sức cấp cứu.

  • Cùng với nhiệm vụ điều trị thì huấn luyện đào tạo được xác định là nhiệm vụ chính trị trung tâm của Bộ môn - Khoa. Những năm trước đây, nằm trong Bộ môn ngoại dã chiến, khoa đã hoàn thành tốt chương trình giảng dạy thuộc chuyên khoa của mình. Tháng 4/2001, Bộ môn Hồi sức cấp cứu được thành lập, tuy đội ngũ giáo viên chưa đủ, vừa giảng dạy vừa trực tiếp điều trị, Bộ môn đảm bảo dạy hàng năm trên 1.000 giờ, tham gia huấn luyện ở các tuyến trong và ngoài Quân đội. Trung bình mỗi giáo viên có số giờ giảng trên 400 tiết/năm. Cho đến nay đội ngũ Giảng viên đã phát triển gồm 1 GS, 2 PGS , 4 Tiến sĩ, 4 Thạc sĩ và nhiều bác sĩ chuyên khoa cấp II.

  • Có 1 GS là phó chủ tich hội, 1 PGS  là ủy viên BCH hội HSCC Việt Nam đã tham gia chỉ đạo về chuyên ngành hồi sức cấp cứu cho các bệnh viện toàn quốc.

  • Chương trình đào tạo của Bộ môn hàng năm bao gồm: Đại học, chuyên khoa sơ bộ, bác sĩ cơ sở, chuyên khoa I, chuyên khoa II, Cao học, nghiên cứu sinh. Kết quả đào tạo gồm:42 khoá Bác sĩ quân y dài hạn (từ khóa 1 cho đến khóa 42), 22 khoá chuyên khoa cấp I.

    • 25 khoá chuyên khoa cấp II,16 khoá cao học (từ 1990 đến nay).

    • 29 khoá nghiên cứu sinh.

    • 13 khoá đào tạo bác sĩ cơ sở (mỗi khoá 4 lớp) quân y và dân y.

    • Tham gia giảng dạy đào tạo cho hơn 100 bác sĩ quân y Lào.

    • 38 bác sĩ học chuyên khoa sơ bộ hồi sức cấp cứu cho các tỉnh Hà Tây, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hoá, Tây Ninh, Hà Giang, Tuyên Quang, Viện 121, Viện 43...

    • Giảng dạy chuyên khoa sơ bộ Hồi sức cấp cứu cho 04 bác sĩ quân y Lào và 02 bác sĩ quân y Cu Ba.

    • 05 khoá cử nhân điều dưỡng.

    • Tham gia tập huấn chuyên khoa gây mê và hồi sức cấp cứu toàn quân của ngành Quân y trong năm 1995, 2000, 2004 và 2008.

    • Trực tiếp hướng dẫn cho 10 tiến sĩ, 30 thạc sĩ và 10 CKII  bảo vệ thành công.

  • Bộ môn đã chủ biên 5 đầu sách Hồi sức cấp cứu cho đối tượng đại học, sau đại học  và tham gia  viết 8 sách chuyên khảo cho công tác đào tạo.

  • Khoa đã nhiều lần đạt giải nhất trong hội thi tay nghề và thi chạy trạm cấp bệnh viện  từ năm 1999 đến năm 2008. Tham gia hội thao tuổi trẻ liên viện đạt giải nhất năm 2003, giải nhất 2005, giải nhì năm 2007 và giải ba năm 2009. Giải nhất Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn quốc năm 2009.

  • Công tác chỉ đạo tuyến: Bộ môn - khoa đã cử cán bộ đến tận đơn vị giảng dạy, hướng dẫn sơ cứu, cấp cứu, tổ chức một đơn vị cấp cứu hồi sức như ở Quân đoàn 4, Quân khu I, Viện 6 Quân khu 2, Viện 43, Quân đoàn 3, Quân khu IV, Hà Giang, Sơn La, huyện Chương Mỹ, Hoài Đức (Hà Nội) và một số đơn vị quân dân y gần Bệnh viện.

2.2. Hoàn thành đặc biệt nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phục vụ trực tiếp nâng cao chất lượng huấn luyện đào tạo và điều trị.

  • Công tác nghiên cứu khoa học đã được Bộ môn - khoa luôn luôn đẩy mạnh và tiến hành thường xuyên.

  • Bộ môn-khoa đã tham gia chủ trì:  12 đề tài nhánh cấp Nhà nước đã được nghiệm thu đạt suất sắc, trong đó đề tài ghép Thận, ghép Gan, Ghép Tim.  14 đề tài khoa học cấp Bộ quốc phòng về chuyên ngành Hồi sức cấp cứu  đã được nghiệm thu đạt loại xuất sắc.

Các giải thưởng trong nghiên cứu khoa học.

  • Giải khuyến khích VIFOTEC năm 1997. giải nhất VIFOTEC năm 2010.

  • Giải thưởng Hồ Chí Minh  về tham gia đề tài ghép Gan.

  • Bằng khen chính phủ năm 2010 cho Bộ môn khoa HSCC về thành tích xuất sắc trong thực hiện thành công ca ghép tim trên người đầu tiên tại Việt Nam.

  • Bốn đồng chí được tặng bằng khen Thủ tướng chính phủ và bằng khen của Bộ quốc phòng về thành tích xuất sắc trong thực hiện thành công ca ghép tim trên người đầu tiên tại Việt Nam năm 2010 .

  • Bằng khen của Bộ GDĐT về thành tích hướng dẫn sinh viên NCKH đạt giải Nhất toàn quốc. Bằng khen Bộ y tế về thành tích hướng dẫn BS trẻ NCKH đạt giải cao.

  • Nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật được cấp bằng khen, giấy khen của Bộ quốc phòng, Học viện Quân y và bệnh viện 103, trong đó có một sáng kiến đạt giải VIFOTEX năm 2010 và được cấp bằng độc quyền sáng chế.

  • Tham gia hội thao tuổi trẻ liên viện đạt giải nhất năm 2003, giải nhất 2005, giải nhì năm 2007 và giải ba năm 2009. Giải nhất năm 2010.

2.3.  Hoàn thành đặc biệt xuất sắc nhiệm vụ cấp cứu điều trị.

  • Số bệnh nhân thu dung từ năm 1990 đến 2010 là hơn 30.000 lượt bệnh nhân. Lưu lượng thu dung bệnh nhân ngày càng tăng: năm 2005 là 1300 bệnh nhân, năm 2010 là 1800 bệnh nhân/năm; số lượng bệnh nhân được cấp cứu hàng năm cao nhất so với các khoa HSCC bệnh viện lớn quân đội.

  • Về công tác Điều trị tích cực: cấp cứu, điều trị nhiều bệnh nhân nặng từ các tuyến quân, dân y chuyển về và là trung tâm cấp cứu, điều trị các bệnh nhược cơ nặng toàn quốc. Ngoài ra khoa tham gia chỉ đạo cấp cứu cho các bệnh nhân nặng ở các tuyến.

  • Hồi sức tích cực cho những ca sau mổ lớn, công nghệ cao như mổ sọ não, tim phổi, cắt gan, tá tụy, ghép tạng ... Nhiệm vụ này góp phần quan trọng cho sự phát triển khoa học kỹ thuật của bệnh viện.

2.4. Những thành tích đặc biệt xuất sắc trong phát triển kỹ thuật và ứng dụng công nghệ mới.

- Phát triển kỹ thuật thận nhân tạo và lọc máu liên tục:

  • Trong 10 năm đã chạy 20.000 lần thận nhân tạo. Các lần chạy TNT đều đảm bảo an toàn, hiệu quả cao, góp phần cứu sống nhiều bệnh nhân ngộ độc cấp, suy thận cấp, đặc biệt chạy thận nhân tạo cho bệnh nhân trước ghép thận.

  • Kỹ thuật lọc máu liên tục là một trong kỹ thuật mới, hiện đại. Nhờ triển khai kỹ thuật hiện đại tiên tiến này khoa đã cứu chữa thành công nhiều trường hợp hiểm nghèo mà trước đây không thể cứu được.

- Thành tích trong lĩnh vực ghép thận:

  • Từ năm 1992 đến nay Bộ môn - Khoa có nhiệm vụ tuyển chọn bệnh nhân trước ghép và theo dõi điều trị sau ghép. Công tác này có vai trò quan trọng đóng góp một phần lớn trong sự thành công trong quy trình ghép thận. Cho đến nay Bộ môn - Khoa đã tham gia ghép thành công 65 cặp  bệnh nhân suy thận mạn tính. Đồng thời tham gia chỉ đạo, chuyển giao kỹ thuật cho một số bệnh viện như 115, 198 bộ công an, Bạch Mai, Việt Đức.

- Thành tích trong lĩnh vực ghép gan:

  • Năm 2004 ca ghép gan trên trẻ em đầu tiên tại Việt Nam đã được thực hiện thành công tại Học viện Quân y. Khoa HSCC đã đóng góp một phần quan trọng cho sự nghiệp ghép gan. Cho đến nay đã trên 7 năm cháu Diệp được ghép gan vẫn được các thầy thuốc khoa HSCC chăm sóc và điều trị. Cháu phát triển và đi học, sinh hoạt bình thường. Bên cạnh đó Bộ môn -Khoa phối hợp với Bệnh viện Việt Đức  thực hiện ca ghép gan từ người cho gan chết não đầu tiên tại Việt Nam.

- Thành tích trong lĩnh vực mổ tim mở, ghép tim thực nghiệm và ghép tim trên người.

  • Năm 2006 Bộ môn khoa tham gia vào chương trình triển khai kỹ thuật mổ tim mở. Đây là một trong kỹ thuật mới lần đầu được ứng dụng tại bệnh viện 103. Tham gia dự án ghép tim thực nghiệm trên động vật được triển khai từ năm 2007 với chủ nhiệm 5 đề tài nhánh cấp nhà nước và đã được bảo vệ thành công xuất sắc.  Đây là dự án làm tiền đề cho ghép tim trên người.

  • Ghép tim trên người: Bộ môn khoa được giao nhiệm vụ chuẩn bị bệnh nhân cho tim  chết não. Đây là công việc vô cùng khó khăn do phong tục tập quán của người Việt Nam. Đầu tháng 6/2010 đã vận động thành công một trường hợp chết não do tai nạn được gia đình nạn nhân đồng ý hiến tạng. Do nhóm máu nạn nhân này không thích hợp với ca chờ ghép tại bệnh viện 103 nên nạn nhân này đã được chuyển ra Bệnh viện Việt Đức để ghép cho 7 bệnh nhân trong đó có ca ghép gan  từ người cho chết não đầu tiên tại Việt Nam.

  • Trước yêu cầu nhiệm vụ cho dự án ghép tim nhu cầu tìm nguồn tạng để ghép là một việc hết sức cấp bách. Không lùi bước trước những khó khăn kiên trì vận động giải thích được một bệnh nhân chết não đồng ý hiến tim và các tạng khác.

  • Nhiệm vụ điều trị chăm sóc  bệnh nhân sau ghép  tim. Đây là nhiệm vụ hết sức khó khăn có vai trò to lớn góp phần bảo đảm thành công cho cuộc ghép. Ngày 17 tháng 6 năm 2010 cuộc mổ ghép tim đã được tiến hành. Trong quá trình thực hiện các quy trình kỹ thuật đã được triển khai thực hiện một cách đồng bộ, chính xác và an toàn tuyệt đối. Cuộc mổ ghép tim và ghép 2 thận đã thành công tốt đẹp. Cho đến nay bệnh nhân nhận tim vẫn khoẻ mạnh sinh hoạt bình thường và vẫn đang được theo dõi chăm sóc của Khoa HSCC.

  • Ca mổ ghép tim trên người đầu tiên ở Việt Nam thành công đánh dấu một bước tiến mới vượt bậc của nền y học nước ta.

2.5. Thành tích trong công tác xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.

  • Chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn luôn được nâng cao, luôn giữ vững lập trường tư tưởng, chấp hành nghiêm kỷ luật Quân đội, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, thường xuyên giữ vững phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc và thầy giáo.

THÀNH TÍCH ĐÃ ĐƯỢC KHEN THƯỞNG

1.Tập thể

Ghi nhận những thành tích đạt được trong 34 năm xây dựng và trưởng thành, Bộ môn Khoa HSCC đã được tặng thưởng:

  • Huân chương Chiến công hạng Ba (năm 1980).
  • Huân chương Chiến công hạng Nhì (năm 1983).
  • Huân chương Quân công hạng Ba (năm 1989).
  • Huân chương Chiến công hạng Nhất (năm 1997).
  • Cờ thi đua của Bộ Quốc phòng cho Bộ môn - Khoa Hồi sức cấp cứu thuộc Học viện Quân y về thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ huấn luyện sẵn sáng chiến đấu lao động sản xuất và xây dựng đơn vị năm 2001.
  • Cờ Đơn vị xuất sắc trong phong trào thi đua quyết thắng 5 năm 2001-2005 của Bộ Quốc phòng cho Bộ môn - Khoa Hồi sức cấp cứu thuộc Bệnh viện 103 Học viện Quân y.
  • Cờ thi đua của Bộ Quốc phòng cho Bộ môn - Khoa Hồi sức cấp cứu thuộc Học viện Quân y về thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dẫn đầu phong trào thi đua Quyết thắng năm 2005.
  • Bằng khen chính phủ (2010) cho Bộ môn khoa HSCC về thành tích xuất sắc trong thực hiện thành công ca ghép tim trên người đầu tiên tại Việt Nam.
  • Bằng khen của Bộ Quốc Phòng (2007) về thành tích xuất sắc trong công tác giai đoạn (2004 - 2006), góp phần vào sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ  Tổ quốc.
  • Bằng khen của Bộ Y tế về thành tích tham gia ghép thận nhân kỷ niệm 10 năm ghép thận (1992 - 2002).
  • 25 Bằng khen của Bộ Y tế, Bộ giáo dục đào tạo về thành tích cứu khoa học và sáng kiến cải tiến kỹ thuật.
  • 18 năm đạt danh hiệu Đơn vị quyết thắng, trong đó có 7 năm liên tục (năm 2004, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010).
  • Đạt 1 giải Ba (2007), 2 giải nhì (2008), 1 giải nhất (2009), trong Hội thao Kỹ thuật sáng tạo tuổi trẻ ngành Y tế khu vực Hà Nội.

2. Cá nhân

  • 01 Thầy thuốc Nhân dân. 3 Thầy thuốc ưu tú. 40 lượt Chiến sĩ Thi đua, 3 Chiến sĩ Quyết thắng. 15 Huy chương vì sự nghiệp giáo dục. 12 Huy chương Vì sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ  nhân dân.
  • 01 Bằng khen của Bộ Khoa học và công nghệ và giải nhất VIFOTEC về sáng chế kỹ thuật Bộ dụng cụ mở khí quản TC08 năm 2010.
  • 03 bằng khen của Chính phủ và bằng khen của Bộ quốc phòng về thành tích xuất sắc trong thực hiện thành công ca ghép tim trên người đầu tiên tại Việt Nam 2010 .

 

 

NHỮNG KỸ THUẬT CHUYÊN MÔN ĐIỂN HÌNH

Trong phát triển kỹ thuật và ứng dụng công nghệ mới tại

Khoa hồi sức cấp cứu- bệnh viện 103


 

1, Phát triển kỹ thuật thận nhân tạo và lọc máu liên tục.

  • Trong những năm qua đã chạy 20.000 lần thận nhân tạo đảm bảo an toàn, hiệu quả cao, góp phần cứu sống hàng trăm bệnh nhân ngộ độc cấp, suy thận cấp, đặc biệt chạy thận nhân tạo cho bệnh nhân trước ghép thận.

  • Kỹ thuật lọc máu liên tục là một trong kỹ thuật mới, hiện đại. Nhờ triển khai kỹ thuật hiện đại tiên tiến này khoa đã cứu chữa thành công nhiều trường hợp hiểm nghèo mà trước đây không thể cứu được.

2. Tham gia  trong lĩnh vực ghép thận.

  • Từ năm 1992 đến nay Khoa đã cùng các khoa trong Bệnh viện, đã thực hiện chặt chẽ khâu tuyển chọn bệnh nhân trước ghép và theo dõi điều trị sau ghép. Bộ môn - Khoa đã tham gia ghép thận  thành công cho 67 cặp  bệnh nhân suy thận mạn tính. Cùng với Bệnh viện, Bộ môn - Khoa tham gia chuyển giao, phối hợp giúp đỡ các bệnh viện trong nước ghép thành công trên 200 ca ghép thận.

3.Tham gia  trong lĩnh vực ghép gan.

  • Năm 2004 trong sự kiện lịch sử của nền y học nước nhà, ca ghép gan đầu tiên đã được thực hiện thành công tại Học viện Quân y. Hơn 60 ngày đầu căng thẳng khoa thường xuyên trực 24/24h theo dõi và chăm sóc bệnh nhân ghép gan với tinh thần quyết tâm vượt mọi khó khăn, không cho phép một sai sót nhỏ. Với tinh thần "tiến công" với phương châm phấn đấu phát triển khoa học công nghệ của nền y học Việt Nam cộng với sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài công trình ghép gan trẻ em đầu tiên ở nước ta đã thành công tốt đẹp.

 

4. Tham gia  trong lĩnh vực mổ tim mở, ghép tim thực nghiệm và ghép tim trên người.

  • Năm 2006 khoa tham gia vào chương trình triển khai kỹ thuật mổ tim mở. Đây là một trong kỹ thuật mới lần đầu được ứng dụng tại bệnh viện 103.
  • Tham gia dự án ghép tim thực nghiệm trên động vật. Đề tài này được triển khai từ năm 2007 với chủ nhiệm 5 đề tài nhánh cấp nhà nước và đã bảo vệ thành công xuất sắc.  Đây là dự án làm tiền đề cho ghép tim trên người.
  • Tham gia ghép tim trên người: khoa được giao nhiệm vụ chuẩn bị bệnh nhân cho tim chết não. Đây là công việc vô cùng khó khăn do phong tục tập quán của người dân chưa nhận thức được quan điểm hiến tạng. Tháng 6/2010 một trường hợp chết não do tai nạn được gia đình nạn nhân đồng ý hiến tạng. Do nhóm máu không thích hợp với ca chờ ghép tại bệnh viện 103 nên nạn nhân này đã được chuyển ra Bệnh viện Việt Đức để ghép cho 7 bệnh nhân trong đó có ca ghép gan  từ người cho chết não đầu tiên tại Việt Nam.
  • Trước yêu cầu nhiệm vụ cho dự án ghép tim nhu cầu tìm nguồn tạng để ghép là một việc hết sức cấp bách. Không lùi bước trước những khó khăn  Bộ môn khoa kiên trì vận động giải thích được một bệnh nhân chết não đồng ý hiến tim và các tạng khác.
  • Ngày 17 tháng 6 năm 2010 ca mổ ghép tim tư người cho chết não đã được tiến hành. Trong quá trình thực hiện các quy trình kỹ thuật Khoa HSCC đã triển khai thực hiện một cách đồng bộ, chính xác và an toàn tuyệt đối. Cuộc mổ ghép tim và ghép 2 thận đã thành công tốt đẹp. Ca mổ ghép tim trên người đầu tiên ở Việt Nam thành công đánh dấu một bước tiến mới vượt bậc của nền y học nước ta.

5. Sáng kiến cải tiến kỹ thuật.

DỤNG CỤ MỞ KHÍ QUẢN CẢI TIẾN QUA DA TC 08

1. Dụng cụ mở khí quản cải tiến qua da TC08 cho phép tiến hành mở khí quản nhanh, dễ thực hiện, an toàn, ít biến chứng.

  • Kỹ thuật có thể tiến hành tại giường bệnh, dụng cụ ít, có thể do 01 bác sỹ tiến hành

  • Thời gian mở khí quản nhanh, trung bình: 2,5 ± 1,4 phút

  • Chảy máu nhẹ và vừa trong khi mở khí quản gặp : 5%

  • Các biến chứng sớm sau mở khí quản gồm: Xung huyết phù nề tổ chức quanh lỗ MKQ 2,5%, nhiễm khuẩn lỗ MKQ: 2,5%.

  • Tổn thư­ơng trong lòng khí quản ngay sau khi rút ống Sjoberg gồm: U hạt: 27,5 %. Xung huyết phù nề niêm mạc khí quản: 22,5 %.

  • Chỉ gặp 1/19 tr­ờng chít hẹp khí quản.

  • Kích thư­ớc sẹo tại nơi mở khí quản trung bình:  0,5± 0,2 cm.

2. Quy trình mở khí quản qua da bằng dụng cụ TC08:

  • Gây tê tại chỗ vùng cổ trước

  • Rạch da 1,5 cm ngay dưới sụn nhẫn

  • Tách cân cổ nông bằng kéo

  • Chọc kim 22 qua khe sụn khí quản 1-2 hoặc 2-3

  • Luồn dây dẫn đường qua kim 22 vào khí quản

  • Đưa đầu dụng cụ TC08 tỳ vào thân kim 22, hướng theo kim để vào khí quản. ấn bộ phận tách mở ra để rạch ngang liên sụn khí quản rộng khoảng 1cm

  • Qua dây dẫn đường luồn ống đã mang Sjoberg vào khí quản

  • Rút ống mang và dây dẫn đường. để lại ống Sjoberg

  • Kiểm tra ống Sjoberg đã chắc chắn nằm trong khí quản thì cố định Sjoberg bằng dây qua cổ.

 

 

CẢI TIẾN CHẾ TẠO SONDE HS103 CẤP CỨU CHẢY MÁU DO VỠ TĨMH MẠCH THỰC QUẢN Ở BỆNH NHÂN XƠ GAN

 


Đăng tin lúc 16:04 ngày 23-09-2011

In trang    Gửi qua Y!M


TIN NỔI BẬT

V/v Phòng chống dịch COVID-19 trong tình...
(21:22 23-05-2020)
Thông báo về việc giả mạo Bệnh viện...
(23:05 19-05-2020)
Các bài giảng mới nhất về COVID-19
(13:57 17-04-2020)
VIDEO
 

BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
Địa chỉ : 261 Phùng Hưng - Hà Đông - Hà Nội

Giấy phép số: 170/QĐ-CT 10-02-2011