Giới thiệu một số kỹ thuật can thiệp mạch đang thực hiện tại BVQY 103
Tìm kiếm :   Tiếng Việt English

Giới thiệu một số kỹ thuật can thiệp mạch đang thực hiện tại BVQY 103


1. Kỹ thuật can thiệp tĩnh mạch chậu đùi điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới

Trong năm 2018, Bệnh viện Quân Y 103 đã triển khai thành công kỹ thuật can thiệp tĩnh mạch điều trị cho các bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới, đây là một kỹ thuật mới lần đầu tiên được áp dụng tại Việt Nam, nâng cao hiệu quả điều trị bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới.

2. Can thiệp động mạch chủ điều trị phình bóc tách động mạch chủ ngực - bụng

Bệnh viện Quân y 103 đã triển khai thành công kỹ thuật can thiệp đặt stent graft động mạch chủ ngực bụng điều trị các bệnh nhân phình bóc tách động mạch chủ.

3. Điều trị phình mạch não bằng stent đảo chiều dòng chảy kết hợp nút coil bổ sung

- Chỉ định:

+ Phình mạch kích thước lớn, phình mạch cổ rộng.

+ Phình mạch hình thoi.

+ Phình mạch có động mạch nuôi xuất phát từ phình mạch.

Một số hình ảnh minh họa:

--------------------------------------------------------------------------------------

KỸ THUẬT ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN NHỊP TIM

BẰNG NĂNG LƯỢNG SÓNG CÓ TẦN SỐ RADIO

 

I. Nguyên lý kỹ thuật

-   Kỹ thuật dựa trên cơ sở sử dụng những ống thông chuyên biệt đi theo đường mach máu vào trong các buồng tim để triệt đốt định khu các cấu trúc giữ vai trò khởi phát và duy trì các loại rối loạn nhịp tim.

-   Năng lượng sóng radio với tần số dao động cao (khoảng 500KHz tức là 500.000 dao động/giây) đi vào vùng mô tim tiếp xúc với đầu ống thông. Các ion trong mô tim sẽ dao động theo và sinh nhiệt do ma sát gây tăng nhiệt độ tại chỗ. Khi nhiệt độ tăng tới khoảng 60 độ C sẽ gây tổn thương protein không hồi phục, do vậy làm mất hoạt tính sinh học của mô tim. Đây là cơ sở của việc triệt bỏ các ổ ngoại vị hoặc các đường dẫn truyền bất thường đóng vai trò là cơ chất gây rối loạn nhịp tim.

II. Chỉ định và kết quả thực hiện

-   Chỉ định: Cho tới nay, hầu hết các loại rối loạn nhịp tim đều đã có thể áp dụng điều trị với năng lượng sóng cao tần, cho hiệu quả điều trị cao, tỷ lệ thành công từ 90-98% tùy từng loại rối loạn nhịp. Các loại rối loạn nhịp được chỉ định:

+  Ngoại tâm thu thất, nhanh thất.

+  Cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất (do vòng vào lại nút nhĩ thất hoặc vòng vào lại nhĩ thất).

+  Nhanh nhĩ, Cuồng nhĩ, Rung nhĩ.

-   Kết quả thực hiện: Áp dụng tại khoa A2/BVQY 103 từ năm 2015, hiện nay đã là kỹ thuật thường quy, với số lượng bệnh nhân từ 200 - 250 ca/năm.

III. Kỹ thuật mới sắp triển khai (Dự kiến quý I/2020).

-   Tên kỹ thuật: Điều trị rối loạn nhịp tim với kỹ thuật lập bản đồ điện học 3D trong buồng tim.

-   Ưu điểm:

+  Hầu như không phải sử dụng tia X trong qua trình thực hiện kỹ thuật

+  Áp dụng hiệu quả với các loại rối loạn nhịp tim phức tạp, đặc biệt là rung nhĩ

--------------------------------------------------------------------

 

KỸ THUẬT ĐẶT STENT GRAFT ĐỘNG MẠCH CHỦ

 

I. Chỉ định

-      Phình động mạch chủ (ĐMC) ngực với đường kính trên 5,5 mm hoặc tiến triển nhanh trên 5 mm trong vòng 1 năm và/hoặc có biến chứng tách thành động mạch chủ

-      Tách thành động mạch chủ typ B cấp (đường vào từ động mạch chủ xuống, trong vòng 2 tuần) có biến chứng bao gồm: vỡ động mạch chủ vào khoang màng phổi, khoang màng ngoài tim, thiếu máu các tạng, giãn lớn động mạch chủ, đau ngực không khống chế được hoặc tăng huyết áp nặng không khống chế được,...

-      Phình động mạch chủ bụng dưới động mạch thận: đường kính > 5,5 mm; hoặc tiến triển nhanh trên 5 mm/năm; hoặc có biến chứng gây tách thành, dọa vỡ…

-      Giả phình (Pseudo aneurysm) động mạch chủ sau chấn thương hay do nguyên nhân nhiễm khuẩn…

II. Chống chỉ định

-      Bệnh lý ĐMC đoạn quai chưa được phẫu thuật gom các nhánh động mạch cảnh.

-      Vùng bệnh lý quá gần các nhánh động mạch trọng yếu mà không có phương án khắc phục trước.

-      Người bệnh có bệnh mạch máu làm cản trở đường vào động mạch (hẹp, tắc động mạch đùi-chậu,…). Nhiễm trùng chưa kiểm soát được.

-      Bệnh lý rối loạn đông máu….

III. Chuẩn bị

-      02-03 bác sĩ tim mạch can thiệp đã được đào tạo kỹ thuật đặt Stent Graft động mạch chủ. 01 bác sĩ phẫu thuật mạch máu (nếu có yêu cầu). 01 bác sĩ hoặc kỹ thuật viên gây mê. 02 điều dưỡng viên và 01 kỹ thuật viên phòng can thiệp tim mạch đã được đào tạo về kỹ thuật.

-      Chuẩn bị bàn để dụng cụ. Dụng cụ thiết lập đường vào động mạch đùi, động mạch quay và tĩnh mạch đùi

-      Ống thông pigtail, Guidewire siêu cứng (super stiff wire), Guidewire 0,035. Bộ Stent graft động mạch chủ. Bóng nong Stent graft động mạch chủ. Dụng cụ đóng động mạch sau can thiệp (Perclose)

-      Người bệnh được giải thích kỹ về thủ thuật và đồng ý làm thủ thuật.

IV. Các bước tiến hành

-      Sát khuẩn các vị trí đường vào: động mạch đùi cả 2 bên, động mạch quay trái. Đặt sẵn từ 2 - 3 dụng cụ Perclose chờ cho mỗi vị trí đường vào mạch máu theo thủ thuật như trên. Sau khi hoàn tất quy trình đặt stent graft thì sẽ thắt chỉ của dụng cụ perclose để khâu lại.

-      Chụp ĐMC: tùy vị trí tổn thương mà đưa pigtail đến vị trí xác định để chụp, cần xác định vị trí: tách, phình, đo kích thước, xác định vị trí đường vào của tách thành hoặc khối giả phình; xác định các nhánh liên quan.

-      Đưa wire siêu cứng tới gốc ĐMC. Đưa stent graft ở trạng thái đã được thu gọn trong ống thông (đường kính từ 16-26 F) qua đường động mạch đùi đến vị trí ĐMC lành nhất trước chỗ bắt đầu tách/phình ĐMC cần can thiệp ít nhất 20 mm. Chụp bằng thuốc cản quang với một ống thông pigtail, để xác định chính xác vị trí đã đánh dấu của stent graft thỏa mãn vị trí cần đặt.

-      Quy trình thả stent graft: đặt stent bằng cách rút dần vỏ ngoài của ống stent graft để stent tự nở và áp vào thành ĐMC. Chụp kiểm tra bằng thuốc cản quang, nếu có đoạn stent graft chưa nở hết hoặc còn rỏ rỉ bên thành, có thể dùng bóng nong cho nở sát thành.

-      Tháo dụng cụ, khâu vị trí động mạch bộc lộ (ngoại khoa) hoặc thắt chỉ với dụng cụ perclose đã để chờ sẵn từ trước thủ thuật.

V. Theo dõi người bệnh

-      Theo dõi trong thủ thuật

-      Theo dõi sau thủ thuật

VI. Tai biến và xử trí

-      Vỡ ĐMC gây tử vong cấp: Cần phẫu thuật cấp cứu.

-      Stent graft chèn vào các nhánh động mạch trọng yếu nuôi não và các tạng: cần đo và xác định chính xác các nhánh trước khi đặt stent.

-      Di lệch stent graft: gây tắc các mạch trọng yếu thì cần phẫu thuật cấp.

-      Liệt tủy sống: Nếu xảy ra cần dẫn lưu dịch não tủy, duy trì huyết áp cao, cho corticoid liều cao tối đa.

-      Endoleak.

Đăng tin lúc 17:39 ngày 23-04-2020

In trang    Gửi qua Y!M


Các bài viết khác
Giới thiệu một số kỹ thuật Chẩn đoán hình ảnh đang thực hiện tại BVQY 103
Bệnh viện Quân y 103 chặng đường tiến tới ISO 15189 trong lĩnh vực xét nghiệm
TIN NỔI BẬT

V/v Phòng chống dịch COVID-19 trong tình...
(21:22 23-05-2020)
Thông báo về việc giả mạo Bệnh viện...
(23:05 19-05-2020)
Các bài giảng mới nhất về COVID-19
(13:57 17-04-2020)
VIDEO
 

BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
Địa chỉ : 261 Phùng Hưng - Hà Đông - Hà Nội

Giấy phép số: 170/QĐ-CT 10-02-2011